Người Việt giữa hội nhập và đồng hóa

Người Việt giữa hội nhập và đồng hóa – ©MathildeTuyetTran, France 2016 – http://mttuyet.fr

Tình trạng di tản của người Trung Đông hiện tại gây nên nhiều cảm thông giúp đỡ, nhưng cũng dấy lên những sự thảo luận sôi nổi về chủ để « hội nhập » của người nước ngoài di tản vào sinh sống trong lòng những xã hội phương Tây xa lạ.

Người Việt Nam sống ở nước ngoài, dù trong tình trạng nào của ba mức độ theo định nghĩa của chính quyền hành chánh địa phương là: Du nhập (introduction) – Hội nhập (intégration) – Đồng hóa (assimiliation) đều là những người có tình cảm với gốc tích quê hương của mình, của cha mẹ. Tôi viết bài này để tặng con gái tôi đã đặt tên cho cháu gái mới chào đời là « Sao Mai », như thế, đứa cháu ngoại của tôi, thế hệ thứ ba, mang tên « Sao Mai » sẽ là một hạt nhân của nước Việt ở một nơi xa xôi trên trái đất. Tôi rất cảm động cảm ơn con gái, cảm ơn cháu mới sinh, và cảm ơn cả cháu ngoại trai mang tên « Thiên Hòa », anh của Sao Mai, đã ghi nhớ lại nguồn gốc của bản thân tôi, một người di tản Việt Nam.

Người Việt Nam sống ở nước ngoài là những người đa số sống hòa nhập với xã hội sở tại, tôn trọng pháp luật nơi họ sinh sống, thành phần tội phạm hình sự như lừa đảo, gian lận, móc túi, buôn bán lậu, giết người, mãi dâm cũng có nhưng chỉ là số ít trong các cộng đồng người Việt.

Người Việt được khen ngợi là những người có nhiều « tham vọng », chăm chỉ, cần cù, học nhanh, học giỏi, hiếu khách, có trình độ văn hóa cao, không ai mù chữ…mà ngược lại, nhiều người Việt Nam đã trở thành những nhà nghiên cứu khoa học, nhân văn, giáo sư đại học, tiến sĩ, nhà văn, họa sĩ, nhà soạn nhạc, bác sĩ, kỹ sư…có tăm tiếng và được ngưỡng mộ, thán phục. Các nhà hàng ăn Việt Nam đa số đều thu hút khách rất thành công. Phở, chả giò (nem) và bún bò, gỏi cuốn tôm thịt, bốn món ăn Việt Nam ấy đã « bị hội nhập » trên thế giới.

Báo chí Đức thường không tiếc lời khen ngợi người Việt. Vào tháng 1 năm 2009 tờ báo Die Zeit (Đức) ca ngợi « Das Vietnamesische Wunder » (Sự Kỳ Diệu Việt Nam) trong một bài báo viết về tình hình hội nhập rất tốt đẹp và điển hình của những người Việt sinh sống tại Đức, các em học sinh Việt Nam có học lực nổi trội và giỏi vượt bực về những môn khoa học kỹ thuật và toán học. Họ đã nói ngay về một sự « đồng hóa » thành công của người Việt trong lòng xã hội Đức.

Cộng đồng người Việt là những cộng đồng hòa bình trong lòng các xã hội sở tại, văn hóa Việt Nam qua các lễ hội Tết Việt và ẩm thực Việt Nam được ưa chuộng yêu thích. Thậm chí, người sở tại còn đi theo người Việt để học hỏi về đạo Phật và Thiền, cũng như tìm hiểu về phong tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình người Việt khi họ thấy trong nhà có bàn thờ tổ tiên, cha mẹ.

Mức độ đoàn kết của người Việt với nhau ở nước ngoài hiện nay cũng tùy thuộc vào môi trường sinh sống tại mỗi nước sở tại mà có sự khác biệt, ít hay nhiều thân thiện, nhưng cơ bản thì tôi vẫn tin là người Việt vẫn biết và còn thương người Việt. Có một lần trên máy bay về Việt Nam, tôi bị nôn mửa, chóng mặt, một người phụ nữ lớn tuổi ngồi hàng ghế sau, thò tay đưa cho tôi chai dầu xanh biểu bôi lên mũi lên trán, cử chỉ đó của chị khiến tôi thật cảm động.

Theo nhận xét của riêng cá nhân tôi, thì tôi thấy quan hệ giữa người Pháp và người Việt hiện tại nói chung vẫn còn có phần lạnh lùng, thủ thế, xa cách, hợm hĩnh hơn là người Đức với người Việt, người Pháp có nhiều thành kiến với người Việt hơn, có lẽ vì quá khứ 80 năm Pháp đã đô hộ Việt Nam. Những tiếng kêu thống thiết, cay đắng của Bác Minh, nay đã ra người thiên cổ, là một thí dụ. 1) Tuy thế, tôi cũng đã gặp những người Pháp, đôi mắt họ long lanh khi họ tiết lộ cho tôi biết là họ được sinh ra ở Lào Cai, hay ở Hà Nội.

Dù gì đi chăng nữa, sự kiện đồng hóa theo định nghĩa hành chánh chỉ là một viễn ảnh xa vời. Nếu cho dù, các nhà xã hội học cho rằng sự kiện không biết nói tiếng mẹ đẻ, không biết viết tiếng mẹ đẻ là đã bị đồng hóa với xã hội (họ) đang sống. Nếu chỉ kể thế hệ thứ hai của người Việt tại nước ngoài, cha hay mẹ, hay cả cha lẫn mẹ, thì thế hệ thứ hai (hoặc lai một nửa, hoặc không lai) sinh đẻ ở nước ngoài có thể chỉ biết nói bập bẹ tiếng Việt, không biết đọc mà cũng không biết viết. Nhưng như thế không có nghĩa là họ đã bị đồng hóa, cho dù có những người tự nhận cho mình là « Tây còn hơn Tây ». Họ không thể bị đồng hóa khi họ vẫn mang tên họ Việt Nam, ăn cơm Việt Nam, nghe nhạc Việt Nam, có quan hệ gia đình, bè bạn Việt Nam, nhưng quan trọng nhất là họ không thể bị đồng hóa theo cách nhìn của những chính quyền hành chánh sở tại.

Tình trạng bị đồng hóa là phải trải qua nhiều thế hệ, khi gốc tích đã phai nhạt dần qua thời gian. Nhưng, ở đây, cho dù thế, sự đồng hóa trong tình cảm và tâm thức vẫn không thể có được 100%, bằng chứng là có những người ngược dòng thời gian đi tìm lại cội nguồn của mình ngược lên cả hàng 300 năm, 400 năm về trước (généalogie), vẫn hãnh diện là có một người tổ tiên xuất thân gốc tích từ nơi này nơi nọ. Chim có tổ, người có tông. Sớm hay muộn, cũng có người đi tìm lại gốc tích cỗi rễ của mình, không thế hệ này thì thế hệ sau…

Không có một quốc gia nào trên thế giới mà không có người dân của mình đi di tản sinh sống ở những nước khác, hoặc là đi làm ăn, đi đầu tư, đi theo con cháu, hay gần đây nhất là hiện tượng đi hưởng hưu trí ở những nước có mức sống rẻ, thấp, hay đi chữa bệnh ở những nước có nền y tế tiến triển xuất sắc…

Về định nghĩa hành chánh và chính trị, được Pháp, Đức và các quốc gia khác trên thế giới sử dụng trong việc quản lý con người thì nơi sinh là tính chất quyết định tiên quyết ai là « người di tản » (immigré) , tức là một người đã được sinh đẻ ra ở một nơi nhưng lại đi sinh sống ở một nơi khác trên thế giới. Quốc tịch không phải là điều kiện xác định « người di tản » vì quốc tịch có thể thay đổi và một người tùy theo hoàn cảnh mà có thể có hai, thậm chí ba quốc tịch khác nhau.

Vì thế nên các thống kê của các quốc gia khác có thêm thống kê những người có gốc tích nước ngoài (cha hay mẹ, hay cả hai cha mẹ) nhưng khi sinh ra thì có quốc tịch của quốc gia nơi sinh đẻ (quyền « đất », hay vì cha mẹ đã vào quốc tịch nước ngoài). Các quốc gia lại có những sự phân biệt quyền quốc tịch khác nhau, có nơi thì con đẻ ra theo quốc tịch cha, có nơi thì con đẻ ra theo quốc tịch mẹ, hay nếu cha mẹ có hai quốc tịch khác nhau thì đứa con có hai quốc tịch khác nhau. Có quốc gia chỉ chấp nhận một quốc tịch, có quốc gia chấp nhận hai hay nhiều quốc tịch, nếu người công dân đó đang ở trên đất nào thì áp dụng, xử luật nước đó. Thế nên, theo cảm tính và theo quốc tịch, người ta có thể tự cho mình là « Tây còn hơn Tây », nhưng theo chính quyền quản lý hành chánh thì người di tản vẫn bị xem là người di tản.

Một nhóm người khác, cũng gây chú ý cho những người làm thống kê, đó là những người sinh ra mà không có quốc tịch, thí dụ như sinh ra trên đất Việt Nam, nhưng không có quốc tịch Việt Nam cũng như một quốc tịch nào khác.

Trong trường hợp Việt Nam thì trong thống kê di tản từ 1975 cho đến năm 1995 nhóm người nói trên gồm có 60.329 người không có quốc tịch, nên theo định nghĩa về « người di tản » theo « nơi sinh » thì họ cũng được xếp vào thành phần người di tản Việt Nam. Ba phần tư của thành phần này là người có gốc Lào, Cam Bốt, hay Trung hoa.

Trở về hoàn cảnh, lịch sử đương đại của Việt Nam có những hoàn cảnh chung đưa đẩy đến những cuộc di dân khá lớn, mà hai cuộc di dân nổi tiếng nhất là cuộc di cư từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 và cuộc di tản của người Việt ra nước ngoài kể từ năm 1975. Tình hình đó khiến cho hiện nay có người Việt sống rải rác trên khắp thế giới, nhiều nhất là tại Mỹ, Canada, Úc và các nước châu Âu.

Một bài báo trên trang mạng VnEconomy đăng ngày 28-12-2015 như sau :

« Theo một báo cáo do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố mới đây, Việt Nam đón lượng kiều hối 12,25 tỷ USD trong năm 2015, đứng thứ 11 thế giới.
Báo cáo mang tên « Migration and remittances factbook 2016″ của WB về di cư và kiều hối cho biết, lượng kiều hối mà Việt Nam đón nhận trong năm nay tăng khoảng 0,25 tỷ USD so với năm 2014. Năm 2014, Việt Nam nhận 12 tỷ USD kiều hối, tương đương 6,4% GDP. Mức kiều hối vào Việt Nam trong năm 2013 và 2012 tương ứng lần lượt là 11 tỷ USD và 10 tỷ USD.
Năm nay, Việt Nam đứng thứ 11 thế giới và đứng thứ 3 ở khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, sau Trung Quốc và Philippines, về lượng kiều hối nhận được. »

Kể thêm vào sự đóng góp đó là những chuyến về thăm gia đình thăm quê hương của hàng triệu người Việt tại nước ngoài, đem thêm quà cáp, tiền bạc về tặng tận tay cho người thân và bạn bè, không được ghi nhận trong các thống kê.

Năm 1954 có hai làn sóng « vào Nam – ra Bắc », người thì di cư vào Nam, người thì ra Bắc tập kết. Bà ngoại tôi đang ở trong Sài Gòn bồng ẵm tôi, thì xuống tầu từ cảng Sài Gòn trở về cảng Hải Phòng năm 1954, và từ đó tôi không còn bao giờ được trông thấy bà ngoại tôi nữa.

Năm 1945 dân số toàn thể nước Việt Nam (cả 3 Kỳ) chỉ có 25 triệu người 2). Năm 1945 là một năm bản lề vận mạng của Việt Nam, vì đúng vào thời điểm Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc, tình hình toàn thế giới thay đổi, trục phát xít Đức quốc xã tại châu Âu và Nhật tại Á châu thua trận chiến, phải đầu hàng lực lượng Đồng Minh, đã mở ra cho Việt Nam có một cơ hội có một không hai trong lịch sử để thoát ra khỏi chế độ bị thực dân Pháp cai trị và bảo hộ và dành lại được chủ quyền, độc lập.

Nhưng trong giai đoạn đó, nạn đói khủng khiếp vào mùa đông năm Ất Dậu 1944-1945 làm cho khoảng 2 triệu người miền Bắc chết đói rất thê thảm, do nhiều nguyên nhân gây ra, mà chủ yếu là cuộc chiến tranh Đông Dương trong giai đoạn Nhật/Pháp cùng chiếm đóng, đã làm cho tình hình xã hội Việt Nam đã yếu kém lại còn yếu kém hơn. Từ năm 1945 cho đến 1954, chiến tranh chống Pháp kéo dài 9 năm cộng với những nguyên nhân khác khiến cho mức tăng trưởng về dân số chỉ đạt được từ 1% đến 1,5% mỗi năm.

Những nguyên nhân làm cho tăng trưởng dân số yếu kém là đầu tiên hết, mức sản xuất lúa gạo, lương thực thấp, cho dù 90% dân số sống ở thôn quê, làm nghề nông, nhưng đa số dân chúng nông thôn đói kém vì họ chỉ là người nhà nông làm ruộng thuê, không có đất canh tác. Nguyên nhân thứ hai làm cho xã hội suy yếu là tình hình y tể rất yếu kém, thiếu thốn mọi phương tiện săn sóc sức khỏe, phòng bệnh, chữa bệnh, thiếu thốn mọi thuốc men, cộng thêm với tình trạng dân chúng rất kém, hầu như không có hiểu biết về vệ sinh. Năm 1940 cả nước chỉ có 741 cơ sở y tế của Pháp lập ra, 13.000 giường bệnh và 600 người bác sĩ và trợ tá bác sĩ. Năm 1955, con số cơ sở y tế bị giảm tập trung còn 567, nhưng con số giường bệnh tăng lên thành 23.200 giường và con số bác sĩ lên được 1.100 người. Sự phân phối dịch vụ sức khỏe rất thiếu cân đối vì hầu như tất cả các cơ sở và khả năng y tế (nhân sự, vật chất) đều tập trung tại các thành phố lớn, tỉnh lỵ lớn, trong khi ở các vùng thôn quê thì dân chúng bị phó mặc. Cũng vì thế mà nguyên nhân thứ ba cũng là hậu quả của hai tình trạng đi trước: dinh dưỡng yếu kém, sức khỏe yếu kém không được chăm sóc, nên tình trạng tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ tuổi rất cao. Các thống kê về chủ đề này đều thiếu chính xác vì dân chúng thôn quê không khai báo lúc sinh đẻ cũng như lúc trẻ qua đời.

Cùng với một sự yếu kém về thể lực là có thêm sự yếu kém về tinh thần. Năm 1945 có 90% dân số mù chữ, không biết đọc không biết viết, mà yếu kém nhất là phụ nữ. Thống kê từ năm 1939-1940 ghi nhận chỉ có 3 trên 100 trẻ con được đến trường đi học, năm 1955-56 tăng lên được thành 8 trên 100 trẻ được đi học.

Cũng trong giai đoạn đó, xã hội Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo Khổng tử, gia đình Việt Nam cũng gần như thực hiện chính sách « bế môn tỏa cảng », hạn chế giao thiệp, tự giam hãm trong « nếp cũ », thiếu giao tiếp thiếu mở mang kiến thức, lũy tre xanh đầu làng cuối làng cũng là một sự ngăn cản cho việc tiếp thu cái hay cái mới của sự phát triển chung: Phép vua thua lệ làng. Những đạo luật gọi là « truyền thống Nho giáo » tôn vinh địa vị uy quyền cao nhất của người cha trong gia đình trong mục đích áp đặt sự lệ thuộc của phụ nữ, cũng như quyền của người đàn ông được phép có nhiều vợ mà phụ nữ phải cam chịu cảnh « chồng chung », từ trong gia đình cho đến ra ngoài xã hội, người phụ nữ Việt Nam không có chỗ đứng. Sự bất bình đẳng nặng nề giữa nam và nữ, khiến cho nam giới « quyền thế » hơn, có quyền đánh vợ, giết vợ để « dạy vợ », có quyền rượu chè say sưa, nghiện ngập, có quyền chơi cờ bạc tiêu tán tiền của…mà chính quyền Pháp thuộc và Nho giáo thì làm ngơ, vì dân trí thấp thì dễ cai trị.

Nhưng sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thì Hiến pháp năm 1946 đã quyết định phục hồi nhân phẩm cho phụ nữ, phụ nữ được quyền bầu cử, ứng cử, chế độ đa thê bị chấm dứt, và sự bất bình đẳng giữa nam và nữ cũng bị hủy bỏ. Các đạo luật sau đó, như luật số 97 ngày 22-05-1950 và số 159 vào tháng 11-1950 hủy bỏ uy quyền tuyệt đối của người cha, cho phép con cái được tự do lập gia đình riêng của mình, và tiến bộ hơn thế nữa là cho phép ly dị.

Tiếp theo sau, đạo luật về kết hôn và gia đình ngày 29-12-1959 của chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, ấn định tuổi kết hôn là 18 (cho phụ nữ) và 20 (cho người nam), ấn định chế độ một chồng một vợ, bình đẳng vợ chồng và bảo đảm quyền lợi của con cái. Các đạo luật ấy ra đời trong một khung cảnh đất nước còn chiến tranh, đói nghèo, đã chấm dứt các cuộc tảo hôn, cưỡng hôn, môn đăng hộ đối, người cùng làng….và đã làm bung ra từ tận gốc rễ thôn quê cái sức mạnh thực sự của phụ nữ Việt Nam.

Những thời gian về sau, kể từ thập niên 1950, người Việt nhờ học hỏi và thực hiện phương pháp ba điều sạch : ăn sạch, nước sạch và nhà sạch, mà đã góp phần tích cực vào việc giảm dịch bệnh, cụ thể là những bệnh dịch phổ biến trong xã hội Việt Nam thời ấy như lao phổi, yết hầu, ho gà, sốt tê liệt, sởi ban đỏ và nhiễm trùng uốn ván… 3)

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ vào ngày 07-05-1954, Pháp phải vỡ mộng muốn chiếm lại Việt Nam bằng vũ lực, chính phủ đương nhiệm Joseph Laniel phải từ chức vào ngày 12-06-1954, nên Pháp phải gấp rút tham dự Hội nghị khôi phục lại Hòa bình tại Đông Dương tại Genève vào ngày 08-05-1954 (Hội nghị đã được chính thức khai mạc từ ngày 26-04-1954). Một kế hoạch di cư từ Bắc vào Nam đã được Pháp và Mỹ hỗ trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm kêu gọi dân chúng rời bỏ miền Bắc di cư vào Nam.

Hãy đọc một đoạn của Nguyễn Đình Lê viết về cuộc di cư năm 1954 4):

« Từ tháng 9 năm 1954 đến tháng 7 năm 1955 là thời kỳ chuyển quân tập kết của hai bên tham chiến ở theo qui định của Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam. Trong khoảng 300 ngày đó, có sự kiện nổi bật diễn ra trong phạm vi cả nước là cuộc di dân, chuyển quân tập kết diễn ra sôi động, lôi kéo trên 1 triệu người lưu chuyển theo các hướng khác nhau. Trong vòng 300 ngày chuyển quân tập kết, có khoảng 1.200.000 người di dân từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc. Trong đó luồng thứ nhất có khoảng trên 1 triệu người, bao gồm lực lượng thuộc các bộ phận trong bộ máy cai trị và chiến tranh, các nhà thầu kinh doanh… của Pháp ở miền Bắc và một số đồng bào theo đạo thiên chúa… Ngược dòng di cư kể trên, có khoảng 150.000 người chuyển cư từ vùng phiá Nam ra miền Bắc. Họ thuộc diện Quân-Dân-Chính-Đảng, từ gọi lúc đó, bao gồm cán bộ chiến sĩ trong lực lượng vũ trang, cán bộ chính quyền, Đảng các cấp và một số nhân sĩ trong mặt trận…Họ từng chiến đấu, công tác trong các chiến trường phía Nam, được lệnh rút quân ra Bắc. Họ ra đi từ các vùng sâu, vùng xa, vùng giải phóng. Đa số họ là những người độc thân, vô sản. Với cuộc di cư song song diễn ra 2 chiều như vậy, diễn ra trong khoảng 10 tháng trời, khi cuộc chiến ở Đông Dương vừa kết thúc, khi các chiến trường trên cả nước đang ngổn ngang, mà có khoảng 1/30 tổng dân số di chuyển trong thời gian ngắn như vậy là một sự kiện hiếm có trong lịch sử Việt Nam và thế giới.« 

Về cuộc di tản của người Việt ra bên ngoài thế giới thì theo Magali Barbieri 5), trong khoảng từ 1975 cho đến 1995 có ít nhất ba đợt di tản lớn của người Việt Nam ra nước ngoài. Hình ảnh những người boat-people long đong trên biển, bị cướp bóc, hãm hiếp, ném xuống biển bởi hải tặc trong cuối thập niên 1970 đã làm chấn động thế giới, mà thời gian đỉnh điểm là năm 1979. Các đợt di tản trong hai thập niên 1980 và 1990 thì đã được tổ chức chính thức, bớt được tính chất nguy hiểm, thê thảm. Phản ứng gay gắt chống lại người di tản Việt Nam trong những năm ấy của các quốc gia lân cận như Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương đã khiến cho Hội nghị quốc tế về vấn đề người di tản Việt Nam tại Genève vào tháng 7-1979 đã có những quyết định giúp đỡ cụ thể và nhanh chóng: tổ chức HCR (Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về người di tản) và Hội Hồng thập tự quốc tế cùng tổ chức và tài trợ các trại đón tiếp và phân phối người di tản đi những quốc gia thâu nhận.

HCR ghi nhận một con số người di tản Việt Nam là 1.410.548 người tại tất cả các trại đón tiếp trong khu vực Đông Nam Á (Mã Lai, Hồng Kông, Thái Lan, Nam Dương, Phi Luật Tân, Singapour, Nhật, Ma Cao, Nam Hàn…)

Tổng số người di tản Việt Nam được ít nhất 29 quốc gia trên thế giới thâu nhận, nhiều nhất là Mỹ (878.341 người), Canada (162.777 người), Úc (157.729 người), Pháp (46.331 người), Đức (28.896 người), Anh (24.240 người), Na Uy ( 10.024 người), Hòa Lan (9.538 người), Thụy Điển ( 9.091 người), Nhật bản (8.126 người), Thụy sĩ ( 7.300 người), Đan Mạch (7.004 người), Tân Tây Lan (6.077 người), Ý (678 người) , Áo (605 người) ….

Sau đợt « thuyền nhân » nói trên, các cuộc di tản « có tổ chức » theo cách nói của HCR cho đến năm 1996 đã có thêm khoảng 600.000 người Việt Nam đi di tản và đã được 24 quốc gia trên thế giới thu nhận.

Thống kê OECD của năm 2010/11 (công bố năm 2013) cho biết Việt Nam có 1.879.500 người đi di tản sinh sống trên thế giới, tỷ lệ di tản là 2,8% nhưng con số người di tản có trình độ kiến thức cao lên đến 10,3%. 6)

Cuối năm 2005 nước Đức cho biết có 83.446 người Việt Nam sinh sống hợp pháp tại Đức, cộng với con số người Việt đã gia nhập quốc tịch Đức kể từ năm 1981 là 41.499 người thì nước Đức có tổng cộng 125.000 người di tản Việt Nam, và hai tiểu bang có người Việt ở đông nhất là Bayern (phía Nam) và Berlin (phía Bắc).

Khi Đông Đức bị tan vỡ thì trong tổng số 60.000 công nhân lao động hợp đồng Đông Đức đã có 34.000 người đồng ý chấp nhận một số tiền bồi thường hủy hợp đồng rất khiêm tốn là 3.000 Đức mã (tương đương với 1.500 euros) để trở về quê hương. Trong khoảng từ 1995 đến 2000 có thêm khoảng 10.000 người Việt Nam bị Đức trục xuất về Việt Nam vì vấn đề giấy tờ không hợp lệ và họ không được chấp nhận cho cư trú vì lý do tị nạn chính trị. 7)

Dân tình Đức đối với người di tản các nước nói chung, và đối với người Việt Nam nói riêng, có một mâu thuẫn cơ bản, bạn bè Đức là những người rất tử tế, thường xuyên giúp đỡ, thân tình, nhưng các trào lưu cực hữu kỳ thị chủng tộc, kỳ thị người nước ngoài, muốn đuổi tất cả người nước ngoài ra khỏi quê hương của họ, sử dụng những hành động khủng bố bạo lực đáng lo ngại như đốt nhà, tấn công riêng lẻ để đánh đập hay giết chết. Dân tình Pháp thì ngược lại, nói chung là lạnh lùng, nhưng không cực đoan đến nỗi đốt nhà, giết người như ở Đức.

Một số người Việt Nam đã rời Đức đi sinh sống ở những nước khác, nên đến cuối năm 2014 thì tổng số người di tản Việt Nam sinh sống ở Đức còn lại 84.455 người (kể luôn những người Việt có quốc tịch Đức, nếu tính trên tổng số người di tản của những quốc gia khác gồm 7.540.000 người thì tỷ lệ người di tản Việt Nam chỉ chiếm có hơn 1%. 8)

Cuộc điều tra dân số tại Pháp năm 1990 đưa ra con số có 60.329 người di tản Việt Nam sinh sống tại Pháp, so với tổng số dân Pháp vào thời điểm đó là 58.423.000 người thì có 103 người Việt trên 100.000 người dân Pháp, một tỷ lệ rất ít ỏi.

Người Việt sống tập trung đông nhất trong khu vực Paris và ngoại ô (30.836 người), các vùng biển Địa Trung Hải (5.090 người) và vùng sông Rhône-Alpes (5.250 người), rải rác ít người ở những khu vực khác, thành phố tỉnh lỵ…

Cho đến năm 1990 thì có hơn 20% người di tản Việt Nam được gia nhập quốc tịch Pháp. 9)

Thống kê của Viện thống kê quốc gia Insee mới nhất, công bố vào tháng 07-2015, cho biết năm 2012 có một tổng số người di tản gộp chung của ba nước Đông Dương cũ: Việt Nam, Lào và Cam Bốt gồm 161.466 người sinh sống tại Pháp.

Các con số thống kê đều có thay đổi vì những nguyên nhân về số tử/số sinh, đi di tản qua một nước khác, mới di tản sang, hay hồi hương vĩnh viễn trở về Việt Nam. Hai chữ « Việt kiều », hay cả « Kiều bào » là một sự nhức nhối cho người Việt ở nước ngoài. Người Pháp khi đi sinh sống trên khắp thế giới họ vẫn là người Pháp, người Đức khi đi sinh sống trên khắp thế giới họ vẫn là người Đức. Tại sao người Việt không vẫn là người Việt dù rằng họ đi sinh sống ở khắp nơi trên thế giới ? Tôi vẫn tin rằng người Việt Nam có một sức sống và một sự yêu đời (sống) rất mãnh liệt, hòa nhập dễ dàng vào những môi trường sống khác biệt, đồng thời gìn giữ được cho mình một lòng yêu mến quê hương không phai nhạt. MTT 02-02-2016

Chú thích:

  1. Dấu Xưa-Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, Mathilde Tuyết Trần, nhà xuất bản Trẻ 2011, Chương Bác Minh và ngôi làng bỏ quên C.A.F.I tại Ste.-Livrade-sur-Lot
  2. Population et développement au Viêt-nam, sous la direction de Patrick Gubry, CEPED, Éditions KARTHALA, CEPED, Pasis 2000, trang 52
  3. Population et développement au Viêt-nam, sous la direction de Patrick Gubry, CEPED, Éditions KARTHALA, CEPED, Pasis 2000, trang 92 pp
  4. Sự kiện di cư năm 1954-1955 trong lịch sử Việt Nam và thế giới, Nguyễn Đình Lê, Đại học Quốc gia Hà Nội, 28-03-2014
  5. Population et développement au Viêt-nam, sous la direction de Patrick Gubry, CEPED, Éditions KARTHALA, CEPED, Pasis 2000, Les Vietnamiens à l’étranger – Magali Barbieri, Trang 286-310
  6. Les migrations internationales en chiffres Contribution conjointe des Nations Unies/DAES et de l’OCDE au Dialogue de haut niveau des Nations Unies sur les migrations et le développement, 3-4 octobre 2013
  7. Die vietnamesische Diaspora in Deutschland – Struktur und Kooperationspotenzial mit Schwerpunkt auf Berlin und Hessen Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit (GTZ) GmbH, Abteilung Wirtschaft und Beschäftigung, Sektorvorhaben Migration und Entwicklung, 2007
  8. Thống kê của Statista, Đức, 31-12-2014
  9. Theo Insee, Récensement de la Population de 1990