Du lịch sinh thái và Đồng bằng sông Cửu Long

Du lịch sinh thái và Đồng bằng sông Cửu Long – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2014 – www.mttuyet.fr
Hiểu theo định nghĩa khoa học tự nhiên thì khái niệm « sinh thái » là gì ? Đó là môi trường sinh sống tự nhiên của tập thể các loại sinh vật tùy theo điều kiện sống thiên nhiên của môi trường đó như địa lý, khí hậu, nhiệt lượng, thủy lượng, sinh vật học, tức là khái niệm sinh thái bao gồm hai chủ thể: sinh vật và môi trường 1) .
Tại châu Âu, kể từ năm 1980 khái niệm « Phát triển bền vững » 2)  xuất hiện, bao gồm ba trụ cột chính là sinh thái, xã hội và kinh tế, trong ý hướng kết tạo và gìn giữ một môi trường sống tốt và cân bằng cho loài người.
Về « hành động » (actions) trong trụ cột « sinh thái » thì phong trào « Phát triển bền vững » chống lại sự hủy hoại môi trường sống của con người, tàn phá thiên nhiên, gây ô nhiễm, làm kinh tế đại trà như phá rừng, phá núi, cào đất, đào quặng mỏ, thải chất độc trong không khí, trong nước, chăn nuôi chuồng đại trà, trồng thực phẩm gen biến đổi, di chuyển vô ích, tiêu thụ vô trách nhiệm, tiêu thụ chất hóa học, phân bón hóa học, xả rác….
Du lịch là một dịch vụ của con người phục vụ con người để đem về lợi ích về kinh tế và văn hóa cho chính mình. Vì thế, chủ thể là người làm du lịch, đối tượng là người đi du lịch, sử dụng dịch vụ du lịch, và hành động là phục vụ đối tượng. Cho nên, khi nói về làm du lịch sinh thái là lựa chọn cho mình một mảng thị trường nhất định để đem về lợi nhuận cho mình, mà đối tượng của mình là những người lựa chọn phong cách du lịch sinh thái.
Cách nhìn này khác hẳn cách nhìn « xin, cho », du khách đến, không phải để xin điều gì, mình cũng chẳng cho họ điều gì cả, hay cách nhìn ngược, bắt đầu từ chữ « cung » mà không trọng chữ « cầu »: ở đây chỉ có như vầy thôi. Họ là khách, đó là điểm thứ nhất, họ bỏ tiền ra mua một dịch vụ, đó là điểm thứ hai. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là làm sao đưa khách về, làm sao cho khách vừa ý, và làm sao giữ được khách, làm sao quảng bá rộng hơn, sâu hơn cho dịch vụ của chúng ta. Hãy tự đặt mình vào vị trí của người du khách thì sẽ tìm ra câu trả lời, đó chính là phương cách thiết kế du lịch sinh thái đặt trọng tâm vào chữ « cầu », đáp ứng nhu cầu của đối tượng.
Khối lượng du khách thế giới là một khối lượng phức tạp vì nó bao gồm đủ mọi tầng lớp dân chúng của nhiều xã hội có nhiều nền văn hóa khác nhau. Từ những nhân viên đi làm việc ở nước ngoài luôn ở những khách sạn cao cấp năm sao vì được hãng, công ty của họ trả phí tổn, những người cực kỳ giầu có, những người trung lưu, những người già về hưu, những gia đình trẻ ít tiền, những người độc thân, cho đến những thành phần thấp nhất trong nấc thang xã hội…họ đều di chuyển ra nước ngoài, với nhiều mục đích khác nhau, giải quyết công việc, nghỉ dưỡng, vui chơi, thăm gia đình bè bạn…Du khách đến từ nhiều quốc gia khác nhau có những thói quen khác nhau, bản sắc văn hóa khác nhau, thích nhau hay né tránh nhau, không thể gộp tất cả làm một, nên những người trong ngành du lịch cần có hiểu biết về những điểm tế nhị đó.
Ngành du lịch, dù ở bất cứ địa điểm nào trên thế giới đều có rõ ràng hai mặt tốt/xấu như bóng với hình. Ngoài những hiện tượng xấu đi kèm với ngành du lịch là sự phát triển của „dịch vụ quen thuộc“ như mua bán tình dục, mãi dâm, ma túy, vũ khí, rửa tiền, hiện nay nỗi lo lớn nhất của nhiều nước trên thế giới là sự di chuyển liên quốc gia của các phần tử khủng bố, phá hoại, gián điệp…đội lốt du khách. Phạm vi của bài viết này giới hạn trong lãnh vực du lịch thật của những du khách thật.

Nhìn ra thị trường du lịch thế giới trong toàn cầu hóa

Thị trường du lịch thế giới là một thị trường cạnh tranh khá rộng trên bình diện địa lý từ khắp các lục địa, châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Mỹ La tinh, châu Úc. Ngành du lịch được nhiều quốc gia đưa lên tầm « mũi nhọn kinh tế », là trọng tâm mọi cố gắng để phát triển vì nhiều lý do.
Đầu tiên, du lịch thuộc về ngành kinh tế với đặc điểm « xuất khẩu tại chỗ », có nghĩa là du khách đem tiền đến tận nơi họ đi du lịch. Ngành « xuất khẩu tại chỗ » giảm thiểu các vấn đề xuất khẩu khác như quan thuế, kiểm định chất lượng sản phẩm, rào cản, ngăn cấm, biện pháp bảo vệ thị trường của các quốc gia nhập khẩu.
Lý do thứ hai là trong khi sức mua của các thị trường khác giảm đi thì nhu cầu du lịch của dân chúng thế giới ngày càng tăng. Quan niệm một cuộc du lịch là một món quà tặng quý nhất cho chính bản thân mình, cho người thân đã thấm sâu vào ước muốn của mọi người dân. Không gì đáng mơ ước hơn là có được một chuyến đi chơi xa, ngắm cảnh, ngắm người.
Lý do thứ ba là ngành du lịch là đòn bẩy cho những ngành nghề khác cùng phục vụ du lịch như các ngành chuyên chớ, xây cất, giáo dục, sản xuất thủ công mỹ nghệ, thương mại, sức khỏe, văn hóa nghệ thuật…
Lý do thứ tư là ngành du lịch tạo một mối quan hệ giao tiếp thế giới rất cần thiết trong phương diện quốc gia như ngoại giao, văn hóa và chính trị.

Cuối năm 2012, cơ quan Du lịch thế giới OMT (Organisation mondiale du tourisme) phấn khởi thông báo con số 1 tỷ lượt người đi du lịch đã được vượt qua, ngành du lịch thế giới tăng trưởng từ 3,5% lên 4%  3).
Các thống kê mới nhất về lãnh vực du lịch cho biết có 1.087 tỷ người đã đi du lịch từ nước này sang nước khác trong năm 2013 ! tăng 5%, tức là có thêm hơn 52 triệu người đi du lịch, so với năm 2012.
Châu Á Thái Bình Dương với lợi thế du lịch biển đã đạt mức tăng cao nhất +6% (+14 triệu du khách) trong năm 2013, đặt biệt vùng Đông Nam Á đạt mức tăng trưởng kỷ lục 10% trong khu vực.
Châu Phi cũng đạt mức tăng trưởng +6% (+13 triệu du khách). Khu vực châu Mỹ có mức tăng trưởng thấp nhất, +4%.
Kết quả này cho thấy sự phục hổi của thị trường du lịch sau cuộc khủng hoảng du lịch năm 2009, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008.

Nước Pháp dẫn đầu 10 quốc gia trọng điểm du lịch thế giới với 83 triệu du khách quốc tế năm 2012 (du khách vào nhiều hơn là cả dân số nước Pháp!), nhưng nước có thu nhập du lịch cao nhất (đắt nhất) là nước Mỹ với số thu là 128,6 tỷ tỷ (billion) usd trong năm 2012. Bốn nước châu Á là Trung Quốc xếp hạng 3 về lượt khách, hạng 4 về thu nhập, Mã Lai xếp hạng 10 về lượt khách đến, còn Ma Cao đứng hạng 6 và Hong Kong hạng 10 về thu nhập.

Xét trên tổng thể, thị trường tiêu thụ du lịch trong năm 2013 có một sức nặng kinh tế là 7.000 tỷ usd và đem lại 266 triệu công việc cho con người. Một thăm dò dư luận tại chỗ cho biết mỗi khách đi du lịch dự trù sẽ chi tiêu khoảng 2.000 euros một người cho một chuyến đi. Dự đoán sức tăng trưởng mạnh nhất của thị trường du lịch thế giới sẽ ở khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương năm 2030 sẽ đạt mảng 30% thị trường du lịch thế giới, một triển vọng rất có tương lai cho Việt Nam  4).
Hội chợ du lịch thế giới lớn nhất tại châu Âu là hội chợ ITB (Internationale Tourismus-Börse) tổ chức hàng năm vào đầu xuân ở Berlin, CHLB Đức, lần tới sẽ vào ngày 04.- 08.03.2015.
Đầu năm nay, 2014, có đến 10.147 tổ chức du lịch của 189 nước trên thế giới tham dự triển lãm ITB lần thứ 48, tất cả 26 gian hội chợ đều chật kín.
Theo báo cáo tổng kết của ITB thì năm nay có 114.000 khách chuyên nghiệp (cũng là các tổ chức du lịch) và khoảng 60.000 khách tư nhân đã đến tham dự hội chợ, tức là tổng cộng khoảng 200.000 khách tham dự, trong số này có khoảng 22.000 khách đã tham dự 200 cuộc hội thảo, diễn thuyết và phát biểu về chủ đề du lịch.
Các công ty du lịch tư đến từ Việt Nam chiếm lĩnh 100 mét vuông triển lãm trong gian 26c, tăng 50% so với lần trước triển lãm trước. Việt Nam tham dự hội chợ ITB từ năm 1985, nên không bị đứng vào danh sách chờ đợi chỗ như vài quốc gia khu vực châu Á như Nepal, Bhutan, Ấn Độ…Khách mời triển lãm danh dự năm 2014 của ITB là Mexiko.

Nhìn về du lịch Việt Nam thì thống kê của Tổng cục Du lịch cho biết là năm 2013 có 7.572.352 lượt khách quốc tế đến Việt Nam, trong số này có luôn cả những chuyến về thăm nhà của thành phần được gọi là „Việt kiều“, chỉ tiêu doanh thu du lịch là 200 tỷ đồng, tương đương với 10 tỷ đô la Mỹ. So với thu nhập của nước Pháp trong lãnh vực du lịch thì với tiềm năng thiên nhiên và nhân lực của Việt Nam sẵn có, mình cần có nhiều cố gắng hơn.

Dù nước Pháp đã đi vào quỹ đạo thoái hóa kinh tế từ năm 2008, ngành du lịch luôn được đánh giá là một mũi nhọn kinh tế bậc nhất nước Pháp, vì nó là đòn bẩy kinh tế cho nhiều lãnh vực khác như sản xuất/tiêu thụ hàng hóa tiêu dùng, xa xí phẩm (nước hoa, thời trang, nữ trang, xe hơi, đồng hồ đeo tay, giầy, sắc tay, rượu vang, rượu mạnh…) hay kinh tế văn hóa (phim ảnh, kịch nghệ sân khấu, âm nhạc, trò chơi giải trí…), và tuy những nhà đầu tư nước ngoài tìm phương cách mua đứt những cơ sở kinh tế du lịch nổi tiếng của Pháp như khách sạn sang trọng, danh tiếng hay tiệm ăn, ruộng nho để đem lợi nhuận về cho nước của họ.
Năm 2007 doanh thu của ngành du lịch Pháp chiếm 6,2% tổng sản lượng quốc dân  5), số lượt khách lên đến 82 triệu (đứng hạng nhất trên thế giới, dù so về doanh thu thì đứng hạng ba sau USA và Tây Ban Nha), 114 triệu khách du lịch nước ngoài theo dạng „transit“ (không ngủ lại đêm), gộp chung 196 triệu lượt người thăm nước Pháp (so với con số lượt người du lịch trên toàn thế giới là 900 triệu lượt), mua sắm và đem lại công ăn việc làm cho gần 900.000 người dân Pháp.

Cùng trong thời gian này nước Pháp có khoảng 5,6 triệu giường cho khách du lịch, không tính đến những nơi cắm lều ngủ và những phòng cho thuê riêng lẻ của tư nhân. Nếu tính tất cả những khả năng „ngủ qua đêm“ cho du khách từ khách sạn loại „cung điện“, 5 sao, cho đến nhà trọ thanh niên (auberges de jeunesse), nơi cắm lều (campings), phòng trọ tư nhân (chambres d’hôtes)…thì con số này lên đến 18.458 chỗ ngủ trên toàn nước Pháp, đặc biệt dọc theo các vùng ven biển và vùng núi Alpes ! Hai tháng du lịch trọng điểm tại Pháp là tháng 7 và tháng 8 trong năm.  6)

Hiện nay, báo chí Pháp đang phát huy một chương trình mới gồm 30 điểm của chính phủ Pháp công bố hôm nay (19.06.2014) để triển khai lãnh vực kinh tế „Du lịch“ được nâng lên tầm mức „ưu tiên quốc gia“, trong hy vọng sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho dân chúng, với viễn tượng 2 tỷ lượt khách du lịch thế giới vào Pháp sẽ được thực hiện từ đây cho đến năm 2030.

Mục đích của nước Pháp là cố gắng vượt mức doanh thu du lịch của Tây Ban Nha (hàng thứ hai thế giới). Doanh thu du lịch hiện đang chiếm 7,3% của tổng sản lượng quốc dân Pháp, một con số đáng kể, và thống kê năm 2013 cho thấy tổng sản lưọng (PIB) của nước Pháp là 1.831, 7 tỷ euros (65,4 triệu dân)  7).  Có chính khách đã nhận định rằng, ngành du lịch là một ngành không thể „dời“ (délocalisation) đi đâu được (ai muốn ngắm tháp Eiffel thì phải đến tận Paris) và nếu nước Pháp thu hút được thêm 5% của sự tăng trưởng thêm một tỷ người đi du lịch cho đến năm 2030, thì sẽ tạo được thêm 500.000 công ăn việc làm, hầu có thể đưa con số người phục vụ trong ngành du lịch lên thành 2 triệu người.

Chương trình 30 điểm hành động, không chỉ nhắm đến việc tăng các hoạt động tiếp thị (marketing) đưa du khách vào Phap, bán các chương trình du lịch, mà bao gồm thêm vấn đề đón tiếp du khách sao cho thuận lợi hơn, lịch sự hơn, vấn đề an ninh cho du khách và nhất là trợ giúp cho chính công dân Pháp có thêm khả năng „tiêu thụ“ du lịch. Cho đến giờ, phong cách tiếp đón khách du lịch tại nước Pháp được đánh giá là chuyên nghiệp nhưng khá lạnh lùng, kiêu ngạo. Năm vừa qua, Paris cũng bị mang tai tiếng về những vụ cướp giật du khách, nhất là đối với du khách châu Á.
Tháng hai vừa qua, một liên kết mới trong lãnh vực du lịch đã được thành lập mang tên là „Alliance 46.2“ (ý chỉ tọa độ địa lý của nước Pháp), gồm có các cơ sở phục vụ du lịch như nhóm khách sạn Accor, phi trường Paris, Club Méditerranée, Elior, Euro Disney, nhóm thương mại Les Galeries Lafayette, Kering, Groupe Lucien Barrière, Pierre & Vacances-Center Parcs, công ty đường sắt quốc gia SNCF…sẽ tham dự vào chương trình hành động mới của chính phủ Pháp.

Định mảng thị trường du lịch sinh thái

Định nghĩa của chuyên gia du lịch Pháp rằng „một cuộc“ du lịch là những cuộc „di chuyển với một mục đích nào đó trong một thời gian tối thiểu là 24 giờ đồng hồ“, cho thấy rằng, khi nói đến du lịch là nói đến ba yếu tố quan trọng: yếu tố di chuyển, yếu tố mục đich, và yếu tố thời gian, nôm na là đi đâu/ở đâu, làm gì/muốn gì và bao lâu ?
Khai triển ý kiến này và kết hợp với tâm lý của người đi du lịch, thì sự lựa chọn của khách du lịch tùy thuộc nhất thiết vào ba ưu tiên sau đây, dẫn theo các vấn đề liên quan:
1. Khu vực du lịch „điểm đến“ : phương tiện chuyên chở và môi trường (an ninh, y tế sức khỏe, ngôn ngữ, tiếp đón, ẩm thực)
2. Mục đích du lịch : mục đích du lịch chi phối các chủ đề du lịch, mà các chủ đề du lịch chính là những trọng điểm tiếp thị không thể bỏ qua, mỗi mục đích và chủ đề đòi hỏi những sự thiết kế khác biệt về cơ sở và dịch vụ. Các công ty thuộc lãnh vực du lịch tại Pháp đều cố gắng thăm dò ý kiến và yêu cầu của du khách để đầu tư cho đúng. Có thể kể ra: du lịch công vụ, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch biển, du lịch núi, du lịch văn hóa tâm linh, du lịch thể thao, du lịch đi bộ đường dài, du lịch xe đạp, du lịch xe mô tô, du lịch gia đình trẻ nhỏ, du lịch cưới, tuần trăng mật…
3. Thời gian du lịch : trung bình du khách lưu lại một nơi ngắn nhất là1 đêm, trung hạn là từ 1 đến 3 đêm, dài hạn là trên 4 đêm. Sự ấn định thời gian này chi phối đến việc thiết kế giá du lịch, cũng là một phương cách tiếp thị ưu tiên, giảm giá (khuyến mãi) tùy theo thời gian du lịch để đem khách về.

So sánh quan niệm « du lịch sinh thái » của Pháp và Việt Nam tôi thấy Việt Nam còn có nhiều tiềm năng để khai thác chủ đề thuộc về « môi trường và thiên nhiên » này, nhưng cách làm, cách thực hiện của loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam vẫn chứa đựng nhiều sự hiểu lầm về ý muốn, ước muốn của du khách quốc tế.

Sự hiểu biết về ý tưởng và quan hệ của phát triển bền vững và sinh thái là điều kiện cần thiết để hiểu đối tượng của mình, những du khách lựa chọn mô hình du lịch sinh thái. Họ là ai ? Họ là những người yêu thiên nhiên, đồng thời rất chú trọng đến những hiện tượng, những vấn đề tàn phá thiên nhiên, hủy hoại môi trường sống lành mạnh, bảo vệ sức khỏe của con người, chống lại mọi sự ô nhiễm.

Thực trạng loại hình du lịch sinh thái kết hợp với thiên nhiên tại Pháp được hình thành để đáp ứng một số nhu cầu của thị trường du lịch sinh thái như:
1. Du khách không thích « ngủ » trong những căn phòng khách sạn « bốn vách bê tông và một cửa sổ » chật hẹp, ngột ngạt, cũ kỹ, hôi mùi ẩm, mốc.
2. Gia đình có trẻ nhỏ muốn giáo dục trẻ nhỏ kết hợp nhu cầu cá nhân (con người) với sự hài hòa với thiên nhiên, biết tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên, môi trường.
3. Du khách thích đi tìm lại cảm giác, kỷ niệm của tuổi thơ ấu, xa xưa. Họ thích đi xe đạp, đi bộ đường dài, leo núi, xuyên rừng, xuyên đồng ruộng, thăm làng mạc, làng nghề, tắm biển, câu cá..
4. Du khách thích ủng hộ những cố gắng, những sáng kiến cá nhân của những người làm dịch vụ du lịch, không thích tiêu thụ theo kiểu « đại trà“ của những tổ chức du lịch quá lớn, giải quyết khách như những đàn cừu non mắc quai, dễ bảo.
5. Du khách thích tránh những cơ sở du lịch bị quá tải, quá sang trọng, quá đắt tiền, tránh loại du khách đi du lịch để khoe là mình giầu có.

Trong mảng thị trường kết hợp với thiên nhiên này, một số người làm dịch vụ du lịch nội địa Pháp có những sáng kiến như lập « gîtes »  8) trong nông trại, trong lâu đài cổ, trong nhà ở, trong chuồng ngựa, chuồng bò, chuồng chim bồ câu cũ…, dùng những chiếc xe bus cũ, tầu buồm cũ…để làm thành phòng trọ, chế tạo những cái « nhà“, những « quả trứng », hay « lâu đài » treo lơ lửng trên cây như tổ chim, hay một cái thùng rượu bằng gỗ thật to làm phòng ngủ, xây những nhà trọ hoàn toàn bằng gỗ, mái lợp rơm rạ dựng ở ven hồ, trong rừng…

Họ dọn ăn sáng, ăn trưa…cho khách theo cách bảo vệ môi trường, tức là bớt sử dụng những loại thực phẩm đóng gói cá nhân trong bao ny lông, trong lon sắt, lon bia hay hộp nhựa, không sử dụng các loại đồ dùng ăn rồi vứt đi như đĩa giấy, khăn giấy, muỗng dao nĩa bằng nhựa…mà dùng đĩa, chén bằng sành sứ, chai lọ bằng thủy tinh, khăn ăn bằng vải, chăn ga 9) gối nệm đều bằng chất liệu thiên nhiên như vải cô tông, vải lanh 10, len 100% …10) , không sử dụng các chất hóa học bảo quản trong thực phẩm… Về giá cả thì họ cố gắng định giá không quá cao so với những khách sạn trung bình và thông thường cùng tiêu chuẩn, thí dụ như hạng hai sao. 11)

Tuy nhiên, cần phải lưu ý đến trình độ chung của xã hội Pháp về phương diện an ninh và y tế cho loại hình du lịch « sinh thái », sự chăm sóc sức khỏe cho du khách được bảo đảm bởi các bác sĩ tại địa phương, các hình thức chuyển vận cứu thương bằng xe, bằng trực thăng, và các trung tâm bệnh viện đa khoa của mỗi vùng, mỗi khu vực. Vấn đề an toàn thực phẩm cũng được bảo đảm.

Thực trạng du lịch sinh thái ở Việt Nam còn đang vấp phải nhiều vấn đề, xuất phát do sự hiểu lầm ý muốn của du khách quốc tế, do sự thiếu nghiên cứu thị trường tiêu thụ du lịch vì tính cách chủ quan của người làm dịch vụ du lịch ở Việt Nam. Người làm du lịch trong nước còn đánh giá quá thấp trình độ hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường của du khách nước ngoài, về sự so sánh của họ vì họ đã đi du lịch nhiều nơi trên thế giới.

Thí dụ như sản phẩm du lịch sinh thái trong nước : đưa khách đi thăm miệt vườn, hái trái cây, ăn trái cây, đi xuồng trên sông, lạch, ăn cơm với thực phẩm địa phương, ngủ nhà vườn…xem ra thì hấp dẫn du khách đến thăm, nhưng khi khách đến nơi thì thấy trong vườn dưới gốc cây có rác, trên ao rác nổi lình bình, dọc bờ kênh cũng rác, chung quanh nhà sàn cũng rác, ngõ vào nhà vườn có hai đống rác hai bên, khách ăn trong nhà hàng thì thản nhiên quăng rác chung quanh mình, cầu xí rất hôi hám dơ bẩn… thì người du khách nước ngoài không hiểu được quan niệm bảo vệ môi trường, thiên nhiên và phong cách làm du lịch sinh thái của mình.

Thực hiện du lịch sinh thái không có nghĩa là đem khách đến một cái ốc đảo nhân tạo như một khu nhà vườn rờ sọt bốn năm sao, cho khách ngủ đêm trong nhà sàn bản làng, dẫn khách đi tắm suối nước nóng, hay dẫn đến một cái hang động, một thác nước, một con sông, xem chuồng nuôi cá sấu, cưỡi con đà điểu chạy lòng vòng trong sân…là coi như đạt được mục đích « sinh thái »!

Du lịch sinh thái là một mô hình du lịch thăm viếng kết hợp giữa tình cảm (lòng yêu thiên nhiên, quê hương) với mục đích giáo dục (bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường), mục đích học hỏi văn hóa (khám phá thiên nhiên, tham khảo, thưởng thức nghệ thuật bản sắc dân tộc…) và mục đích nghỉ dưỡng (thoải mái, thư giãn, yên tĩnh trong thiên nhiên mình yêu thích).

Khách du lịch thường có hai nỗi lo âu chính, đó là bệnh tật truyền nhiễm và tai nạn. Nên trước khi đi xa đến những nơi lạ, họ thường lo lắng trước về vấn đề sức khỏe như chích ngừa, đem theo thuốc chữa bệnh, nhưng họ cũng băn khoăn thắc mắc về sự cứu nạn ở nơi đến : có bác sĩ săn sóc hay không ? có chuyên chở cứu nạn hay không ? có bệnh viện ở gần đó không ? cho nên, việc thực hiện du lịch sinh thái cũng phải bao gồm luôn cả dịch vụ về phương diện y tế cho du khách.

Các khách sạn lớn thường có khu vực gọi là « Spa » nhưng đa số du khách nước ngoài đều lo ngại về vấn đề vệ sinh, phẩm chất của nguyên liệu sử dụng (muối trị liệu, kem, sữa, dầu, thuốc nhuộm tóc…) nên không xử dụng, thí dụ như không thay khăn trải « gường/băng » mát xa 12) sau mỗi lượt phục vụ khách, không tẩy dụng cụ làm móng chân móng tay bằng cồn đốt 90 độ, hay nấu sôi, không rửa lược chải tóc, bàn chải tóc…, không nói đến những trường hợp có mãi dâm trong khách sạn.

Có ai nghĩ đến việc đặt câu hỏi du lịch Việt Nam phải làm gì khi du khách bị móc túi, cướp giật, khi du khách bị nhiễm giun sán vì thực phẩm bẩn, bị nhiễm chí, bị rận cắn hàng chục vết vì giường, chăn gối bẩn, khi du khách bị nhiễm chất hóa học do các chất thuốc hóa học lau chùi bàn ghế, khi du khách bị dị ứng vì thuốc tẩy, thuốc giặt quần áo, khi du khách bị té cầu thang bong tay bong chân, khi du khách bị nôn mửa, tiêu chảy vì thực phẩm, khi du khách bị xe taxi, xe dù, nhà hàng chặt chém, khi du khách bị nhà hàng đuổi ra không tiếp 13) hoặc lây các bệnh về đường sinh dục……., hay những tai nạn khác trong thời gian du lịch, mà các nhà quản lý khách sạn, nhà hàng chỉ quan tâm đến mức độ tỏ một lời „khuyên“ nạn nhân nên đi bác sĩ, hay ra thưa công an… là hết trách nhiệm và bổn phận của người làm du lịch ? không giúp đỡ cụ thể cũng không có bồi thường cho khách ?

Quan niệm và thành kiến cho rằng, khách du lịch đều có bảo hiểm của họ, mình không phải lo chi cả cho họ, là một thái độ thiếu tình người và thiếu trách nhiệm.
Trong cuốn Xã hội tiêu thụ trong Toàn cầu hóa – chương Xã hội tiêu thụ và du lịch – sẽ xuất bản vào năm 2015 tôi có góp ý về những yếu điểm của ngành du lịch Việt Nam, mà trong đó điểm yếu quan trọng thứ hai của du lịch Việt Nam là vấn đề vệ sinh môi trường.

Một học giả, nhà giáo, đã thốt nên một câu ca than rất ai oán và rất thực tế rằng, đại sứ du lịch của Việt Nam không phải là một khuôn mặt bôi son trét phấn đeo lông mi giả cứng nhắc như đóng kịch (ai có thấy đẹp hay không là còn tùy theo quan niệm về sắc đẹp phụ nữ của họ) của một cô gái trẻ nào đó, mà đó là cái nhà cầu ! Câu than của học giả này  hoàn toàn đúng và rất chân thành thiết thực! Nếu du khách đến Việt Nam rồi đi không trở lại cũng chính vì mức độ vệ sinh công cộng còn quá kém cỏi, quá thấp, quá sức dơ bẩn.

Dơ bẩn từ trong phi trường, nhà ga, khách sạn, nhà hàng ăn…cho đến những địa điểm tham quan như chùa, đền, nhà thờ, di tích lịch sử, bảo tàng viện…Từ những nhà cầu không có cánh cửa, bệ cầu và sàn đầy ngập nước tiểu, không có nước dội, nước rửa tay, đầy ruồi nhặng…, cho đến rác trên đường phố, rác của người ăn uống vất đầy xuống chân bàn, nền nhà hàng, nào là xương xẩu, lon bia, khăn giấy bẩn, tàn thuốc lá..khiến cho du khách nước ngoài nhìn thấy rợn cả tóc gáy. Bàn ăn nhớp nháp mỡ, nước mắm, ghế ngồi như chưa bao giờ được lau chùi một lần, khăn bàn loang lổ vết bẩn, ly nhựa nhìn thấy là đã sợ, không dám uống, tách trà đã qua miệng cả chục người uống trước mà không được rửa, lau sạch…Một khi đã thấy nhà cầu của một quán ăn, hay một khách sạn, thì không ai muốn đặt chân đến ở hay ăn uống ở đó nữa. Đặc biệt cũng có sự khác biệt theo vùng, Hà Nội vẫn giữ vị trí „sạch nhất trong những anh bẩn“ của mình, Phan Rang đầy rác, có lẽ tỉnh Ninh Thuận bẩn nhất nước, Huế và Sài Gòn có một trình độ vệ sinh khá hơn.

Chỉ cách đây một, hai năm thôi, nước Pháp còn bị mang tiếng là một trung tâm du lịch cực kỳ sang trọng, văn hóa siêu đẳng với những nhà cầu rất chật hẹp và dơ bẩn, hôi hám. Cuối cùng thì ngành du lịch Pháp cũng phải chú trọng đến cái cầu tiêu, và đã đầu tư sửa chữa lại rất nhiều cầu tiêu công cộng, thay vì chỉ sơn toàn là mầu trắng cũ vàng trước kia, thì bây giờ họ làm lại cho rộng thêm ra, sơn lại tường, trang trí các cánh cửa bằng nhiều hoa văn với mầu sắc tươi sáng, vui mắt, bỏ hẳn cửa ra vào khu vực vệ sinh để tránh bớt nhiễm trùng từ nắm tay mở cửa, đèn bật tự động, thay nút nhận nước bằng hệ thống phát hiện tự động tay người lướt qua, và nhất là có người thường trực quét dọn lau chùi nhiều lần trong ngày. Một số nhà cầu công cộng bắt phải trả tiền, 0,50 € cho một lần sử dụng, nhưng ít ra là sạch sẽ. Một số nhà hàng á châu ở Paris bị đóng cửa không phải vì bếp dở, nấu không ngon, mà vì cái cầu tiêu không sạch sẽ.

Những năm gần đây du lịch Việt Nam có thêm một ô nhiễm môi trường về tiếng động, đó là sự kiện rất ồn ào, rất ầm ĩ của các loa phóng thanh phát ra những loại nhạc gọi là nhạc trẻ Việt Nam.
Người Việt mình thường rất ồn ào và thích ồn ào tập thể, nếu không nhận thấy, không ý thức được sự ô nhiễm môi trường về tiếng động. Các loại trò chơi đều kèm theo tiếng động, âm thanh và nhạc nền kích thich, các bữa ăn đều rất vui vẻ ồn ào, các nhà hát, phòng trà vũ trưởng mở loa phóng thanh hết ga, muốn bể thanh nhĩ và làm đứng tim, các loa phóng thanh công cộng hoạt động liên tục cả ngày, các nhà hàng mở đi mở lại một hai đĩa CD quen thuộc làm cho khách không muốn nghe cũng bị bắt buộc phải nghe muốn khùng.

Tranh cãi về sở thích cá nhân về âm nhạc là một tranh cãi vô ích vì mỗi người có một yêu ghét riêng, nhất là người nước ngoài, lại càng không có cùng một sở thích âm nhạc như người Việt. Vấn đề đặt ra ở đây trong tầm quan trọng của nó là vấn đề ô nhiễm môi trường bởi sự phát thanh âm nhạc trong lãnh vực du lịch ở Việt Nam.

Du khách đến Việt Nam là những người đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, nên không thể áp đặt một loại nhạc cho tất cả mọi người đều (phải) nghe. Nền âm nhạc gọi là „nhạc trẻ“ của thế hệ 9x hiện tại của Việt Nam hiện đang bị áp đảo bởi xu thế „làm mới“ chạy theo nhạc rock, beat, pop, jazz, rap, techno, hip hop, R&B của châu Mỹ, có khuynh hướng thích hát gào thét, nhạc đệm ầm ĩ, nhịp điệu nhanh dồn dập, hơi khó nghe và mệt mỏi cho những thành phần khác tuổi „ten“ (teen-age), lớn tuổi và người nước ngoài. Phát thanh loại nhạc này hàng giờ liên tục, hàng ngày liên tục là một sự tra tấn tinh thần mà không ít khách không thể chịu nổi. Hình như giới quản lý giám đốc chưa nhận thấy đây là một điểm cần phải sửa đổi, không nên  để cho nhân viên tùy tiện mở nhạc theo sở thich cá nhân của họ.

Có khi ngay bên cạnh một khách sạn được đánh giá cao trong dịch vụ của họ thì lại là một khu vui chơi công cộng cho trẻ em, ánh sáng suốt ngày đêm và lượng âm thanh ầm ĩ liên tục, không có một phút ngơi nghỉ từ sáng sớm cho đến đêm khuya phải nghe đại loại bốn chục lần bài hát „túp lều lý tưởng của anh và em…“ làm cho du khách rất bức xúc. Loại « nhạc trẻ » hiện nay nhất định không phải là loại nhạc thích hợp trong mô hình « du lịch sinh thái“ mà du khách yêu thích những tiếng động của thiên nhiên như tiếng chim hót líu lo, tiếng nước chảy róc rách, tiếng gió phần phật, tiếng mưa rơi thánh thót, tiếng sóng vỗ ầm ầm bờ cát, tiếng gà gáy sớm mai, tiếng cây rừng cựa mình cót két, tiếng lá reo xào xạc lao xao…hơn.

Đặc điểm du lịch sinh thái của Đồng Bằng sông Cửu Long

Tiềm năng và hy vọng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam có nhiều từ Bắc xuống Nam, đó là tiềm năng của những khu vực thiên nhiên như các vùng vườn quốc gia, bờ biển miền Trung, vùng núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long và các đảo lớn.

Khu vực đồng bằng sông Cửu Long như tên gọi là một vùng đất phẳng, có nhiều sông nước, đặc biệt có một hệ thống kinh rạch đan nhau thẳng tắp như một bàn cờ được xây dựng từ thời Pháp thuộc, và có những thành phố còn giữ được ít nhiều phong cách kiến trúc của Pháp thời xưa, nhiều điểm đến hấp dẫn cho du khách như Mỹ Tho, Cai Lậy, Cái Bè, Châu Đốc, Sa Đéc, Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hà Tiên, Phú Quốc…
Những con sông Vàm Cỏ đông, Vàm Cỏ tây, Tiền Giang, Hậu Giang, Gành Hào, Bảy Hạp, Cái Lớn…nước chảy mênh mông rất ấn tượng. Nhưng ấn tượng nhất là hành trình đi đến Đất Mũi, đi từ Cà Mau hay từ Năm Căn bằng ca nô tám chỗ. 14)

Bên cạnh ý nghĩa của du lịch sinh thái, đi tìm sự hòa hợp với thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống, xuất hiện từ giữa những năm 90 một khái niệm mới về quan điểm kinh tế, đó là thuyết « Kinh tế theo Phật » 15). Quan điểm mới này dựa trên nền tảng một ý nghĩa đạo đức luân lý trên tinh thần của Phật giáo, lao động kinh tế là để giúp con người phát triển khả năng bản thân, có tinh thần hòa đồng tập thể, và thực hiện những sản phẩm, dịch vụ có ích lợi cho mọi người. Việt Nam là một quốc gia mà đa số dân chúng chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Cho nên, nếu nói rằng, ưu điểm tinh thần của du lịch sinh thái Việt Nam là đứng trên quan điểm « Kinh tế theo Phật » có phải là một « ngụy biện » ?

Tiềm năng du lịch sinh thái của Đồng Bằng sông Cửu Long có nhiều ưu điểm:
về thiên nhiên : trên sông ngòi và kinh rạch có thể tạo thành những cuộc di chuyển thú vị bằng thuyền, ca nô, đi đò, qua phà với điều kiện bảo đảm an toàn tính mạng cho du khách.
về kinh tế địa phương : các vườn cây trái, vườn hoa kiểng, vựa gạo, ruộng muối, lò gạch, chợ nổi trên sông, chợ cá..là những địa điểm tham quan thú vị cho khách du lịch sinh thái. Họ sẽ có những khám phá thú vị về đời sống hòa đồng với thiên nhiên của người dân.
về sản phẩm du lịch sinh thái : các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm bằng cây dừa, cây tràm, cây đước, đất nung…, hay thêu, đan, móc, có tính chất vật dụng hữu ích được du khách nước ngoài ưa thích, và họ đem về được trong hành lý.
về văn hóa : các địa điểm tôn giáo như chùa, nhà thờ, đền miếu nổi tiếng là những nơi khách du lịch sinh thái sẽ yêu thích. Văn hóa « đờn ca tài tử », hay sáu câu vọng cổ, là một đặc trưng ngọt ngào của khu vực, cần được khai triển mạnh hơn, vì được khách nước ngoài yêu thích. Văn hóa ẩm thực đặc biệt vùng đồng bằng với nhiều cá, tôm, cua, hải sản…, cách nấu bằng than, củi, hấp, nướng, kho (tránh chiên, xào nhiều dầu mỡ), phong cách ngọt dịu của các món ăn sẽ làm cho du khách sinh thái yêu thích. Người nước ngoài nói chung thường không thích các món « nước » như lẩu, canh, họ thích các món nướng than. Đặt một cái lò than lên bàn, không phải bếp điện, cho họ tự nướng món ăn là điều họ thích nhất.
Các điểm hấp dẫn nổi bật cho khách du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông Cửu Long:

– đi thăm Đất Mũi bằng ca nô kết hợp với một bữa ăn cơm có biểu diễn đờn ca tài tử, vọng cổ.
– đi thăm Phú Quốc từ Cà Mau bằng đường biển hay máy bay, một hòn đảo thiên nhiên đẹp như thiên đường hạ giới.

Tuy nhiên, người làm du lịch sinh thái Việt Nam nên chú trọng đến yêu cầu của khách du lịch sinh thái, đã không quản ngại đường xa, thời gian và tốn kém để đến tận nơi thăm đồng bằng sông Cửu Long của chúng ta. Xin mạn phép đưa ra vài ý kiến, không có gì là to lớn, dễ giải quyết, ít tốn kém, và nhất là nước mình không thiếu nhân lực:
vệ sinh môi trường : cấp bách nhất là vệ sinh nhà cầu tại các nơi du lịch phải thật sạch sẽ, thu dọn rác rưởi, không xả rác, không khạc nhổ bừa bãi.
phong thái tiếp khách : không cãi nhau tay đôi, sừng sổ với khách du lịch, không tỏ vẻ khinh khi khách du lịch (phân biệt đối xử với khách đoàn, khách lẻ, khách đeo ba lô..) hay Việt kiều, không đuổi khách nước ngoài mà không có lý do chính đáng. Cần thiết nhất là sự giúp đỡ cấp tốc, cụ thể, kịp thời khi khách du lịch bị tai nạn, cướp giật, mất giấy tờ, mất tiền bạc, nhiễm trùng, đau ốm… Đa số du khách thuộc thành phần người lớn tuổi, về hưu, có khả năng tài chánh và thì giờ để đi du lịch trong suốt năm, nhưng sức khỏe có phần suy giảm, nhất là khi đi đứng, nên có biện pháp lưu ý giúp đỡ phục vụ người già.
thời gian khuyến mãi : nên có tập trung tạo một thời gian khuyến mãi đặc biệt trong hai tháng, ba tháng. Thời gian du lịch nước ngoài của người châu Âu là hai tháng 7,8 (mùa hè) và 12, 1 (mùa đông).
cung cấp dịch vụ : các bữa ăn sáng nên chú ý đến thói quen của khách nước ngoài, họ cần có cà phê, bánh mì, bơ, thịt nguội, mứt trái cây, sữa tươi, nước cam, hoa quả, trứng. Các hoạt động rất ồn ào, ầm ĩ như đám cưới, party sinh nhật…trong khuôn khổ khách sạn nên giảm bớt lựong âm thanh và không kéo dài quá 22 giờ đêm để cho du khách có một đêm nghỉ ngơi yên tĩnh. Bảo đảm an toàn khi di chuyển cho khách du lịch, người làm dịch vụ phải tự động phát phao cấp cứu cho từng hành khách.
Một chuyến du lịch sinh thái gọi là thành công, khi mọi yếu tố đều hài hòa, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. MTT.

Chú thích:

1 Tiếng Pháp là écosysteme, tiếng Anh là ecosystem, tiếng Đức là Ecosystem.
2 Tiếng Pháp là développement durable, tiếng Anh là sustainable development, tiếng Đức là nachhaltige Entwicklung
3 Thông tấn xã Reuters, La barre du milliard de touristes en 2012 franchie, ngày 12.12.2012
4 Theo OMT – Tourism Towards 2030 (Le tourisme – l‘Horizon 2030)
5 Tiếng Pháp là PIB, produit intérieur brut
6 Marie-Anne Le Garrec: Le tourisme, un secteur économique porteur, Le tourisme en France, Edition 2008
7 Thống kê của Banque de France, Ngân hàng quốc gia Pháp. Sources : Eurostat, Commission européenne, ngày 12.06.2014
8 Gites là khái niệm thay thế cho khái niệm « khách sạn », dùng để chỉ những nơi có phòng cho du khách ở trọ, thường là chỉ vài phòng trong một nông trại, một lâu đài hay một ngôi nhà lớn của tư nhân.
9 Ở Việt Nam gọi là chăn ga gối nệm, chữ « ga » là biến đổi từ chữ « drap » (khăn trải giường) của tiếng Pháp.
10 Vải « cô tông » phiên âm từ chữ  » coton », vải « lanh » phiên âm từ chữ « lin », cây gai, , len cũng là phiên âm từ „laine“ của tiếng Pháp.
11 Loại khách sạn rẻ nhất tại Pháp hiện nay, không có sao nào cả, kiểu « một cái giường trong bốn vách bê tông, phòng tắm chung » để ngủ qua một đêm khi đi đường là 39 euros/hai người/đêm.
12 « Mátxa » là phiên âm từ tiếng Pháp: massage.
13 Trên mạng đã có những du khách nước ngoài phản ảnh những sự việc không tốt mà họ đã gặp phải khi du lịch ở Việt Nam. Một bà giáo người Pháp bị dị ứng nặng nề từ khuỷu tay đến cổ tay cả hai bên phải trái sau một buổi ngồi trên ghế nhựa bên một hồ tắm trong một khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh. Hai người khác than phiền là bị từ chối không bán nước uống cho họ trên một bãi biển. Hai người nước ngoài nữa ngạc nhiên vì bị đuổi ra khỏi nhà hàng Biển Xanh trên đường Xuân Diệu, Quy Nhơn, vào một buổi chiều lúc 18 giờ một ngày mồng bốn Tết mà không hiểu tại sao. Họ vào nhà hàng, được nhân viên xếp bàn cho ngồi, đưa thực đơn, họ gọi nước uống, đang đọc menu, thì bị nhân viên nhà hàng đến nói là nhà bếp không nhận khách, dù còn sớm và một nửa nhà hàng có khách đang ăn, ít nhất có 5, 6 bàn trống, không có khách. Họ phải đứng dậy đi ra và tìm một nhà hàng khác cũng trên đường Xuân Diệu. Tại một nhà hàng gần đó, họ  chứng kiến là dù rất đông thực khách kéo đến, nhân viên chạy kê thêm bàn, kê thêm ghế, kín hết cả lề đường, không hề từ chối một khách nào cả. Trên đường về, họ thấy vẫn có khách khác, đến sau, đang ngồi ăn, và vẫn còn bàn trống tại nhà hàng Biển Xanh. Hai thái độ rất khác nhau, trên cùng một con đường tại Quy Nhơn.
14 Xem bài „Ánh sáng trên Đất Mũi“, trong Từ Lũng Cú Đến Đất Mũi, hồi ký du lịch của Mathilde Tuyết Trần, xuất bản tại Pháp năm 2013 – ISBN: 978-2-9536096-5-3
15 Tiếng Pháp là « l’économie bouddhiste », tiếng Đức là „Buddhistische Wirtschaftslehre »

Sáng kiến nhà quả trứng treo trên cây của ngành du lịch Pháp. Nguồn bài và hình: Mathilde Tuyết Trần, bài viết « Hội chợ du lịch thế giới và du lịch sinh thái 2014 »

Sáng kiến nhà tổ chim hoàn toàn bằng gỗ của ngành du lịch Pháp. Nguồn bài và hình: Mathilde Tuyết Trần, bài viết « Hội chợ du lịch thế giới và du lịch sinh thái 2014 »

Sáng kiến dùng xe bus cũ để làm phòng ngủ của ngành du lịch Pháp. Nguồn bài và hình: Mathilde Tuyết Trần, bài viết « Hội chợ du lịch thế giới và du lịch sinh thái 2014 »

Gian hàng du lịch (duy nhất !) của một công ty tư nhân Việt Nam tại hội chợ du lịch Pháp 2014 Nguồn bài và hình: Mathilde Tuyết Trần, bài viết « Hội chợ du lịch thế giới và du lịch sinh thái 2014 »

Tài liệu tham khảo :
• Mathilde Tuyết Trần, Từ Lũng Cú đến Đất Mũi, hồi ký du lịch, xuất bản tại Pháp ISBN: 978-2-9536096-5-3, 2013
• Mathilde Tuyết Trần, Xã hội tiêu thụ trong Toàn cầu hóa, sẽ xuất bản tại Pháp 2015
Tổng hợp và phân tích các thông tin và thống kê của các trang mạng sau đây:
• Cơ quan thống kê của Liên Minh châu Âu, Eurostat: http://epp.eurostat.ec.europa.eu/portal/page/portal/eurostat/home/
• Ngân hàng Quốc gia Cộng hòa Pháp: Banque de France: https://www.banque-france.fr/
• Viện thống kê Quốc gia Cộng hòa Pháp INSEE: http://www.insee.fr
tác giả bài viết thuộc Viện thống kê INSEE: Marie-Anne Le Garrec, Le tourisme, un secteur éonomique porteur, Le tourisme en France, Edition 2008, service statistique de la direction du Tourisme
• Tổ chức Thế giới về Du lịch: Organisation mondiale du tourisme OMT: http://www2.unwto.org/fr
• Hội chợ triển lãm du lịch thế giới tại Berlin Đức: Internationale Tourismus-Börse Berlin: http://www.itb-berlin.de
• Tổng cục Thống kê Việt Nam: http://www.gso.gov.vn – Các kết quả điều tra về du lịch
• Thông tấn xã Cộng hòa Pháp Reuters: http://fr.reuters.com/