Thai Nguyen tea fest draws the crowds 2015

Thai Nguyen tea fest draws the crowds – Lễ hội chè Đại Từ – Thái Nguyên 2015

 

MTT_festivalDT2015

Tea ceremony: Young women present tea to delegates at the Tea Festival held in Thai Nguyen Province. — Photo courtesy of the organisers

THAI NGUYEN (VNS) — For a Vietnamese couple living overseas for many years, the Tea Festival in Dai Tu District in the northern province of Thai Nguyen was an unforgettable experience.

Mathilde Tuyet Tran and her husband, who live in France, said they enjoyed the festive atmosphere and learning more about the Vietnamese tea drinking culture.

The three-day festival, which ended yesterday, promoted the tea growing and drinking culture of the Vietnamese people. It attracted many visitors.

Organised as a cultural festival and trade fair, the event presented 200 booths introducing tea products and handicrafts from villages in Dai Tu.

There was a competition to honour tea makers and to exchange the technology used in tea processing by businesses, co-operatives, villages and households.

Tourists also enjoyed singing, a typical music genre of the Tay, Nung and Thai ethnic groups who reside in Thai Nguyen. Songs were also sung around a campfire at night, accompanied by a musical instrument called dan tinh (with a sound-box made from a dried gourd).

Tuyet Tran said she felt the joy of the local people as they introduced tourists to different products.

She said she was amazed by a drumming performance by high-school students. She felt the beat reflected the soul of their homeland.

Tourists were impressed by a traditional market displaying specialities such as com lam (rice cooked in a bamboo tube), nem chua (fermented pork and pig skin), banh gio (pyramidal rice dumpling) and banh chung (square glutinous cake).

Blessed with favourable soil and climate, Dai Tu District has the largest tea plantations in the province. More than 6,200ha yield about 57,000 tonnes of leaves each year, making up one third of the province’s total tea output.

Dai Tu is pround of its prosperity associated with the industry. This is also reflected in farmers’ increasing incomes, according to Dang Viet Thuan, vice chairman of the provincial People’s Committee.

« The tea festival has become a tradition for local people, » he said. « It creates a chance to promote the products to tourists and develop the name of Dai Tu tea. »

Thai Nguyen tea products are popular in Viet Nam and are also highly valuable exports. — VNS (Viet Nam News 28.01.2015)

Hưong trà gợi nỗi nhớ quê – Lễ hội chè Đại Từ, Thái Nguyên – ©Mathilde Tuyet Tran, Đại Từ 2015

(Bài viết đã đăng trên Báo Thái Nguyên Chủ Nhật, số 4538, ngày 01.02.2015)

Một trong những „xuất hiện“ mới trong đời sống xã hội của Việt Nam là những lễ hội vửa có tính chất quảng cáo thương mại vừa có tính chất bản sắc văn hóa dân tộc đó là những lễ hội chè, cà phê…Miền Bắc gọi là „chè“ thì miền Trung và Nam gọi là „trà“ (thé, tea).
Đại Từ là một trong các khu vực chè Thái Nguyên nổi tiếng. Theo đường bộ trung tâm Đại Từ cách trung tâm Thái Nguyên khoảng 30 cây số, có đoạn đi dọc một sườn hồ Núi Cốc thơ mộng, được tạo ra bởi một nhánh sông Công bị tay người chặn lại, tạo thành hồ nước thiên nhiên, để khi xả lũ thì tạo thành thủy điện, một nhánh khác tiếp tục chảy xuôi về địa phận thủ đô Hà Nội. Đại Từ nằm bên sườn phía đông của dãy núi Tam Đảo, nơi hiện nay có khu vực rừng quốc gia Tam Đảo còn chứa đựng một số thú rừng trong khung cảnh hoang sơ, nên các khu vực trồng chè thụ hưởng mọi điều kiện thuận lợi thiên nhiên của một vùng núi cổ miền trung du Bắc Việt, trải dài thoai thoải trên sườn núi từ phía Bắc xuống phía Nam, nổi tiếng nhất như các vùng trồng chè ở La Bằng, Hoàng Nông, Mỹ Yên, Văn Yên…Cây chè cần nước nhưng không thích nước đọng, cũng như không thích đứng chung với các loại cây khác như cây xoan, nhựa cây xoan thấm vào các gốc rễ chè sẽ làm cho các gốc chè này trở nên đắng, khó uống. Có nơi, ở Thái Nguyên, tôi thấy đầu một đường chè có trồng một bụi cây hồng, tạo ra „hồng trà“, ắt hẳn cây hoa chè phải có duyên với cây hoa hồng.
Sản lượng của các „làng chè“ Đại Từ đã ở mức cao, trung bình khoảng 5,8 tấn chè trên một hếc ta (1 ha) như sản lượng của làng chè La Bằng 2.300 tấn chè trên một diện tích trồng chè là 400 ha, đem đến một thu nhập bình quân hơn 100 triệu đồng/năm/ngwowif, tương đương với khoảng 5 ngàn đô la Mỹ (thống kê năm 2012), nhưng sản lượng này còn có thể tăng lên đến 6 hay 7 tấn chè trên 1 ha/năm.
Mỗi năm một lần lễ hội chè Đại Từ được tổ chức trên tầm mức quy mô của huyện, tức là „còn thua“ cấp bậc tổ chức quốc gia, nhưng tôi thấy đã khá chuyên nghiệp và bài bản. Điều quan trọng nhất là không khí lễ hội với sự tham dự của đông đảo dân chúng đã đạt được rõ ràng. Một khoảng đất rất rộng được sử dụng cho lễ hội, có cổng chào cờ bay phất phới, xem ra cũng khá hoành tráng.
Dân vùng chè, sinh sống hầu như 100% bằng việc trồng chè, tất rất tha thiết với những sự kiện quảng bá kinh tế chè, tăng tiêu thụ, tăng xuất khẩu sản phẩm chè của họ, nên đến tham dự lễ hội đông vui. Đêm khai mạc lễ hội có chương trình biểu diễn văn nghệ đặc sắc quanh hai chủ đề chính: cây chè và niềm tự hào, lòng yêu thương quê hương thu hút cả hàng ngàn người đến xem. Các ngày lễ hội kế tiếp còn có những cuộc thi sao chè theo phong cách cổ truyền, các thú vui chơi làng quê.
Trong chương trình văn nghệ khai mạc, các màn biểu diễn của các học sinh các trường trung học làm cho tôi ngạc nhiên. Tuy tiếng trống của các em đánh chưa hào khí bằng tiếng trống Tây Sơn Bình Định, nhưng đã có sự thuần thục và nhuần nhuyễn, chứng tỏ lòng ham thích và sự tập luyện nhiều ngày. Chồng tôi khen lắm, vì ở bên châu Âu, nếu có bảo các em học sinh tập luyện biểu diễn văn nghệ như thế chì chẳng có cô cậu nào chịu theo cả, bảo họ đến trường chăm học là đã khó khăn vất vả cho cha mẹ lắm rồi.
Vào xuân năm nay có khoảng 50 cơ sở sản xuất chè tham dự lễ hội, họ mời thưởng lãm chè tại chỗ, trao đổi, tặng chè cho khách. Cạnh các gian hàng chè là một khu chợ quê, có con dê cột gốc cây, có mấy con gà úp trong thúng, có người mời uống rượu chén…, triển lãm các sản phẩm quê hương đặc sắc như cơm lam, nem chua, bánh chưng, bánh giò, bánh mật (giống như bánh ú tro miền Nam), bưởi Diễn, mẹt, thúng…, có người biểu diễn sao chè theo lối cổ truyền trong cháo to trên lửa ấm…Tôi tiếc quá là các sản phẩm dân dã đặc sắc, tốt cho cái bụng, ấy, lại không bán, chỉ để nhìn…, không thì tôi đã mua hết cả chợ !
Chè Đại Từ có hương vị đậm đà, nước trong óng vàng, thơm ngon. Năm nay khâu đóng gói lại có thêm một tiến bộ mới, đó là đóng gói thành ấm, cứ một gói trà là vừa đủ cho một ấm chè, vừa rất tiện lợi cho sự tiêu dùng rộng rãi của người mua, vừa rất đẹp mắt, một hộp trà Đại Từ là một món quà tặng vừa sang trọng vừa có phẩm chất dinh dưỡng cho sức khỏe.
Nền kinh tế chè của khu vực Thái Nguyên cần có thêm cố gắng về mặt đầu tư thương mại. Đầu tư trong khâu sản xuất là quan trọng, để tăng mức sản xuất và tăng phẩm chất của sản phẩm. Tại các nước phát triển thì đầu tư thương mại chiếm một ngân sách, tính trong giá thành sản phẩm, còn cao hơn là ngân sách dành cho sản xuất sản phẩm („đầu ra“ ). Nếu không bán được nhiều hàng, hết hàng, thì „đầu vào“ không thể tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của đầu ra, và vòng quay vốn sẽ chậm, ít sinh lợi. Việc đầu tư thương mại cũng nên thực hiện trên nhiều mức độ: địa phương, quốc gia và quốc tế, cho nên cũng cần đến sự góp phần của các chuyên gia, ngoài việc được hỗ trợ trên bình diện chính trị bởi các cơ quan đoàn thể nhà nước. Một điều cần chú ý nữa là phong cách uống trà (chè) của người dân trên thế giới có nhiều sự khác biệt, nên khi giới thiệu một sản phẩm chè đặc sắc Việt Nam cũng nên quan tâm đến thói quen của đối tượng „mua“ sản phẩm của mình để linh động thay đổi sự „thương mại hóa“ sản phẩm chè của mình. Thí dụ như người châu Âu uống chè trong tách to, và tách chè phải khác tách uống cà phê, tách chè thì có hình dáng tròn và đường nét mềm mại, tách cà phê cũng có hình dáng tròn nhưng đường nét cứng rắn hơn. Trong khi đó thì người Việt uống chè trong những cái chung rất nhỏ. Người tiêu thụ quốc tế uổng cho đã khát, giải nhiệt, trong khi mình uống „lấy hương lấy hoa“, dù rằng uống nhiều chung chè nhỏ liên tiếp cũng đã làm tỉnh hẳn người rồi.
Tuy chưa có dịp tham dự một lễ hội chè cấp quốc gia ở Thái Nguyên, nhưng thiển ý thấy sự kết hợp của các sự kiện giới thiệu sản phẩm chè, giới thiệu văn hóa văn nghệ, giới thiệu các sản phẩm đặc sắc quê hương (chợ quê) là một „kịch bản“ thành công.
Trên đường về, chúng tôi lại có dịp cười rất vui về một đề tài rất mới, đáng bàn luận. Một anh bạn trẻ, khi được hỏi „Anh có thấy trà nương không ?“, anh ấy trả lời „ Trà gì ạ ?“, khiến chúng tôi phá ra cười. Chàng trai trẻ chi mới được thưởng thức trà xanh, trà mạn, trà nhài…chứ chưa biết „trà nương“ là gì ! Đó là những cô gái tươi trẻ, xinh xắn, da trắng như trứng gà bóc, mắt sáng long lanh ý nhị, môi đỏ hồng như son của vùng đất Đại Từ, được tuyển chọn để mời khách thưởng lãm trà và giới thiệu những điểm đặc sắc của trà Đại Từ. Cô gái hái chè, nổi bật trên những luống chè xanh bạt ngàn, vẫn còn là một hình tượng đẹp thơ mộng trong làng văn học Việt Nam. MTT

MTT_DT002