Đám cưới Việt Nam

Đám cưới Việt Nam ©Mathilde Tuyet Tran, France 2015, http://mttuyet.fr

Thời tôi còn nhỏ, mỗi khi có đám cưới thì tôi cuống chân cuống cẳng chạy theo xe hoa, hay thập thò ngoài cửa, ngoài ngõ, để chờ được xem cô dâu. Xác pháo nổ đỏ dưới chân, hoa giấy ly ty bay tứ tung vướng lên tóc lên áo, mọi người lăng xăng nhộn nhịp, ai cũng đẹp, ai cũng mặc quần áo mới…Mỗi cô dâu như một bà tiên, đẹp tuyệt trần, trong trắng, cái xe cưới đem cô dâu về nhà chồng kết đầy hoa là một cỗ xe thần tiên đi vào tương lai, vào mộng đẹp, vào hạnh phúc. Người ta lại thường bảo tôi là nhiều cô dâu khóc lắm, khóc sụt sùi hay khóc nức nở. Tại sao lại khóc nhỉ, được làm cô dâu là đẹp là sướng chứ. Chẳng thế ai cũng khen dâu rể thật đẹp đôi. Thời tôi cũng là „cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy“, môn đăng hộ đối, có ai dám cãi lại…là sẽ vướng vào lưới trời lồng lộng…Tủi thân làm sao cho những người chưa được làm cô dâu có được một cái đám cưới vui tươi linh đình như thế.
Đám cưới là lễ nghi đẹp nhất của đời người, trịnh trọng nhất, vui nhất, cảm động nhất, vì ai cũng nghĩ cưới chỉ một lần.
Chỉ có ông Trời oái ăm mới chia duyên rẽ thúy, làm tan vỡ tình chồng nghĩa vợ. Chỉ có cuộc đời thực tế miếng cơm manh áo, con cái, nợ nần, bệnh tật…bây giờ lại thêm những ảo tưởng, ảo ảnh qua hệ thống vi tính, mới khiến cho nhiều số phần lao đao, vất vả.
Ngay khi lục lại những sổ hộ tịch cũ của thế kỷ thứ 17 tại Pháp tôi mới thấy thời ấy, tuy thề thốt là cưới nhau chỉ một lần, nhưng có người đã phải lần lượt đem trình 6 người vợ trước tượng Chúa, vì những người phụ nữ non trẻ ấy, 12 tuổi, 14 tuổi trở lên đã qua đời sau khi sinh nở, hay chết sớm vì bệnh tật. Thế hệ cha tôi còn được phép cưới chính thức bốn vợ, trong hôn thú có khoản để ghi thứ hạng của vợ, vợ thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư.
Tại châu Âu, càng ngày đám cưới càng mất đi hình thức nghi lễ cũng như ý nghĩa của nó. Đám cưới của nhà giầu, trưởng giả là chỉ để khoe của. Đám cưới của người bình thường trở thành một sự kiện chính thức hóa ngày ký hôn thú tại các cơ quan hộ tịch. Giản đơn đến mức đám cưới không còn là một kỷ niệm đẹp nữa, làm cho xong chuyện.
Các nguyên nhân về kinh tế, không có khả năng tài chính để làm đám cưới mời nhiều khách tham dự, hay về xã hội, không cần có đám cưới vẫn chung sống đẻ con với nhau, khi nào hết yêu nhau thì chia tay nhau rất đơn giản, đường ai nấy đi không bị pháp luật cản trở khiến cho người ta không còn quan trọng hóa việc tổ chức đám cưới nữa.
Tình trạng thất nghiệp càng cao bao nhiêu, nhất là trong khoảng tuổi 18 – 39 tuổi, thì khuynh hướng đàn ông trẻ không muốn cưới vợ càng giảm bao nhiêu thì khuynh hướng phụ nữ trẻ muốn cưới chồng càng tăng bấy nhiêu. Sự „cạnh tranh“ của phụ nữ để lấy được một đấng ông chồng có của cải, có thế lực, có công ăn việc làm, có lương hưu…lại càng lớn hơn, càng làm thêm cho nhiều gia đình đổ vỡ, ly dị, con cái khổ lăn khổ lóc.
Tại Việt Nam đám cưới vẫn còn là một thiên đường mơ ước. Đám cưới thời xưa với những nghi lễ cổ truyền như mai mối, đánh tiếng, giạm ngõ hay chạm mặt, ăn hỏi, cưới xin, lại mặt tuy hiện nay đã được giảm còn 3 lễ chính như ăn hỏi, đám cưới, lại mặt, nhưng vì phong tục mỗi nơi mỗi khác, mỗi miền Bắc Trung Nam mỗi khác nên cũng có nhiều chi tiết tình tự khác nhau. Cùng với nghi thức đám cưới, vài câu hỏi về kinh tế không kém phần quan trọng cũng được đặt ra, đó là thách cưới, quà cưới cho cô dâu, mua sắm quần áo cưới, phòng tân hôn với những giường, chăn nệm, tủ, bàn ghế…hoàn toàn mới, nơi ở mới của đôi vợ chồng mới cưới và chi phí tổ chức tiệc cưới. Vì thế nên đám cưới tuy là của hai người trẻ nhưng thật ra là của hai gia đình bên chồng bên vợ, bên chồng hãnh diện vì con dâu mới, bên vợ hãnh diện vì chú rể mới.
Cưới xin là một việc rất hệ trọng, không thể hỏi cưới ai một cách không không, xấc xược, vì đó là chạm vào danh dự của cô gái, của gia đình cô gái, nên khi đã „đặt vấn đề“ thì phải tiến hành những nghi lễ cụ thể tiếp theo đó.
Thời tôi còn trẻ, tuy là đã biết đến „tự do kết hôn“, „tự do yêu đương“, nhưng thế hệ thời ấy còn chưa dám phá vỡ vị thế của cha mẹ, của gia đình họ hàng trong việc kết hôn, thể diện cha mẹ và gia đình vẫn còn là trên hết. Cùng thời gian ấy, tại châu Âu vấn đề „tự do cá nhân“ hoàn toàn biệt lập với gia đình cha mẹ cũng chưa „phát triển“, việc hôn phối còn chịu nhiều ảnh hưởng của gia đình, cũng môn đăng hộ đối như ở Việt Nam, cũng kết hôn vì lý không vì tình. Thuốc ngừa thai được đưa vào thị trường phuơng Tây từ năm 1960 chưa gây một sự thay đổi lớn về quan niệm đạo đức xã hội, nhưng cho đến khi sự phá thai vì lý do xã hội được cho phép, các hình luật về phá thai bị bãi bỏ vào khoảng giữa thập niên 1970 thì sự tự do luyến ái tại châu Âu mới thật sự bùng nổ rộng rãi, kéo theo sự thay đổi những khái niệm đạo đức về hôn nhân và gia đình.
Mai mối là có ông mai bà mối, thường là những người có phúc, có đức được chọn để đứng ra làm mai mối cho „hai trẻ“ nên duyên. Ông mai bà mai đến nhà cô dâu „đề nghị“ cô gái nhà này thì nên kết hôn với cậu trai nhà kia, hợp tuổi, tránh xung khắc tuổi và đều là môn đăng hộ đối! Thời xưa hay thời nay thì việc „mai mối“ vẫn là quan trọng vì nhờ người mai mối có quen biết rộng rãi mà những gia đình muốn thăng tiến xã hội mới „kết nối“ được với nhau, tìm dâu rể theo quy định cưới trước yêu sau, lý trước tình sau.
Lễ giạm ngõ, chạm mặt là lần đầu tiên chú rể tương lai và những người đại diện nhà trai đến nhà gái, sau khi thấy cô dâu tương lai đạt đủ tiêu chuẩn, yêu cầu của nhà trai, để „đánh tiếng“ và xem mặt cô dâu. Trong lễ này thì bên nhà trai xin chọn ngày lành tháng tốt hợp tuổi cả hai người để làm lễ ăn hỏi, nếu cả cô dâu, chú rể không có gì phản đối.
Giạm ngõ xong thì các vấn đề kinh tế đám cưới được đặt ra, hoặc là nhà gái thách cưới, hoặc là nhà trai hứa hẹn những món quà tặng cho cô dâu, hay ngược lại còn có thể đòi của hồi môn của cô dâu. Quà cưới dành riêng cho cô dâu thường là nữ trang, tùy theo mức độ giầu nghèo, có thể là nguyên một bộ dây chuyền và nhẫn cưới, trong miền Nam thì nhất định phải tặng cho cô dâu một đôi bông tai, gia đình giầu có thì thêm vào vòng tay, nhẫn kim cương. Gia đình trung lưu trong Saigon khi xưa cho dâu rể hàng mấy chục triệu đồng thời ấy để làm vốn bắt đầu.
Việc in thiếp báo hỉ, gửi thiếp báo hỉ, đi mời ăn cưới, tổ chức tiệc cưới cũng đã được đặt ra và quyết định. Thông thường, đám cưới được tổ chức chung cho cả hai bên, nhưng bên nào thì chi phí cho khách mời của bên ấy, tính theo mâm cỗ, theo bàn tiệc cưới. Có khi nhà gái mời tiệc cưới riêng, nhà trai riêng nếu lãnh vực giao tiếp của mỗi bên có nhiều khác biệt trong nấc thang xã hội.
Ở nhà quê tiệc cưới diễn ra trong sân nhà, vườn nhà, ngoài ngõ, có rạp che, có cổng chào tân hôn kết hoa. Ở thành thị thì hoặc tổ chức tại biệt thự tư gia, hay trong các nhà hàng, khách sạn lớn. Việt Nam năm 2015 vẫn còn những đám cưới dù ở quê hay ở đâu cũng đều rất linh đình, 100 mâm cỗ, mỗi mâm là 5 hay 6 khách cưới là thông thường, mời chỉ có 600 khách là „chưa to“, 120 bàn với mỗi bàn 10 khách ăn cưới là „vừa đúng“ tầm cỡ ! Gia đình, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp…kéo nhau đi ăn cưới và họ cho quà mừng, hoặc là vật thể hoặc là tiền mừng đựng trong phong bì. Nên đám cưới là một cơ hội „giao lưu“ rất vui vẻ cho mọi quan hệ xã hội và một cơ hội „xúc tác“ sẽ nảy sinh ra nhiều đám cưới kế tiếp. Trong khi, chỉ có triệu phú tỷ phú ở châu Âu mới có thể tổ chức một đám cưới tương đương với một đám cưới bình thường ở Việt Nam. Thành phần trung lưu châu Âu thường mời một số ít người thân cận nhất, bạn bè gần nhất…khoảng trên dưới 100 khách cưới là đã to lắm.
Cỗ cưới ở nhà quê miền Bắc hiện nay cho một bàn gồm năm, sáu khách mời có giá là 600.000 đồng cho luôn cả thức ăn nước uống. Giá một bàn tiệc ăn cưới thay đổi từ con số đó lên thành triệu rưỡi, hai triệu, bốn triệu, năm triệu… hay tính bằng đô la Mỹ, 60 đô la chi phí cho một khách ăn cưới ở Hà Nội, chưa kể giá thuê chỗ cùng các phí tổn trang trí sân khấu, bình hoa, ban nhạc giúp vui…. Đại gia khoe giầu, khoe danh thì đám cưới của gia đình họ đều là những „sự kiện“ superlatif, làm chấn động dư luận.
Lễ ăn hỏi theo truyền thống là một nghi thức rất đẹp mắt và rất Việt Nam. Hôm đấy là ngày nhà trai chính thức đem lễ vật đến cầu hôn cô gái. Ngày xưa ở nhà quê thì mâm lễ vật phủ khăn đỏ gồm có trầu cau, xôi, gà luộc, chè gói. Thời tôi ở thành phố thì lễ vật ăn hỏi đã được cô dâu tương lại lựa chọn, hoặc là theo phương Tây thì mỗi phần lễ vật là một hộp bánh bích quy (bánh Tây), trầu cau và một hộp chè, hoặc là theo cổ truyền là một hộp bánh xu xê (phu thê), một gói chè sen, một gói mứt sen và trầu cau. Nhà trai phải đặt cho đủ phần của nhà gái yêu cầu, có khi lên đến mấy trăm phần lễ hỏi. Đoàn nhà trai, dẫn đầu bởi ông mai bà mai, chú rể, cha mẹ và thân quyến đi trước, đoàn người bưng lễ vật đựng trong các quả tráp sơn son thếp vàng phủ khăn đỏ nối đuôi nhau đi theo sau, xem rất đẹp mắt và long trọng. Có khi quà tặng cho cô dâu chỉ được trao trong ngày cưới, nhưng cũng có khi cha mẹ chồng tương lai „đeo“ quà cho cô dâu tương lai ngay trong lễ ăn hỏi, chỉ trừ chiếc nhẫn cưới là chưa trao. Nhà gái chỉ mời trà nước nhà trai, trò chuyện ít lâu là xong lễ.
Sau lễ ăn hỏi, cô dâu tương lai phải đích thân đi „chia phần“ lễ hỏi của mình, đích thân bưng từng phần quà một đem đến tặng gia đình người thân họ hàng bạn bè, báo tin mình sắp đi lấy chồng.
Cái „thê thảm“ nằm ở chữ „đi“ lấy chồng. Vì theo phong tục Việt Nam, ngày cưới, ngày lên xe hoa, cũng là ngày người con gái chính thức từ giã gia đình cha mẹ ruột, để lên xe hoa về nhà chồng. Dân gian có câu, con gái là con người ta, con dâu là con của mình. Cô dâu phải về sống với chồng trong gia đình nhà chồng, đóng góp công sức cho gia đình nhà chồng và phụng dưỡng cha mẹ chồng, chôn cất hương khói cha mẹ chồng. Khi về nhà chồng, cô dâu „quên“ tên mình, từ đấy chỉ mang tên chồng hay tên con của mình. Người phụ nữ được đánh giá, không phải vì công sức lo cho gia đình mình, mà vì công sức lo cho chồng và cho cả gia đình nhà chồng. Người con dâu trưởng là người mang gánh nặng to lớn nhất.
Ngày cưới, nhiều cô dâu ngồi buồn thiu, khóc vì sự chia ly với gia đình ruột thịt của mình. Người chồng, một người đàn ông „lạ“, kể từ đây lại trở thành người „quen“, chi phối suốt cả đời người của mình.
Ngày nay, đến ngày cưới, ngày trọng đại, nhà trai cử một đoàn người đại diện cùng với chú rể, nhưng không có cha mẹ chồng, đem xe hoa đi xin dâu/đón dâu. Đoàn người phải chờ đúng giờ lành mới lên đường, rồi phải trở về cùng một con đường và đưa cô dâu bước chân vào nhà chồng đúng vào giờ hoàng đạo. Một phụ nữ bê một mâm trầu cau đi trước, vào bên nhà gái, xin cho được đón dâu. Nhà gái trả lời ưng thuận thì người ấy trở ra mời đoàn đón dâu vào nhà gái. Sau phần giới thiệu hai đoàn đại biểu, đại biểu nhà trai lên tiếng xin đưa cô dâu về làm dâu gia đình chồng, thì nhà gái chấp thuận cho cô dâu ra chào. Trưởng đoàn nhà gái tuyên bố cho chú rể cùng cô dâu lên thắp hương trên bàn thờ tổ tiên, đó là nghi thức thành hôn của đôi vợ chồng mới bên nhà cô gái. Trà nước xong, đoàn đón dâu xin phép lên đường. Đó là bước đi chính thức của cô gái ra khỏi gia đình cha mẹ ruột của mình. Trên đường „đi“ lấy chồng, cô dâu rải „lộc“ (tiền lẻ) để cầu xin mọi việc tương lai tốt đẹp.
Về đến nhà chồng, hai bên đại diện được mời ngồi vào bàn, có cha mẹ chú rể, bên nhà gái tuyên bố đã đưa cô dâu mới về cho gia đình chồng an toàn, lành lặn và „giao“ cô dâu cho gia đình chồng. Cha mẹ chồng tuyên bố nhận cô gái về làm dâu trong gia đình mình, rồi cho phép cô dâu và chú rể thắp hương trên bàn thờ gia tiên, đó là nghi thức thành hôn bên nhà chàng trai, từ đây, theo tập tục Việt Nam, hai người đã „chính thức“ thành vợ thành chồng, dù nếu chưa có ký hôn thú theo quy định của pháp luật cũng chẳng sao cả. Các „tuyên bố chính thức“ của cả hai bên nhà gái nhà trai đều cho thấy đây là đám cưới trước hết của hai gia đình, rồi sau đó mới là việc hai người trẻ nên vợ nên chồng, gia đình vẫn „bao trùm“ lên cá nhân thành viên của gia đình.
Sự kiện ký hôn thú trước hay sau còn là vấn đề lễ nghi theo từng tôn giáo. Tại Pháp, nhà thờ chỉ nhận làm lễ kết hôn sau khi hai người vợ chồng đã ký hôn thú xong trước tại cơ quan hộ tịch. Sự khắt khe của giáo hội Pháp đã giảm nhiều. Khi trước, người ly dị không được kết hôn lần nữa trong nhà thờ, hay quan tài của một người theo cộng sản không được đem vào nhà thờ, linh mục hành lễ bên trong nhà thờ, nhưng quan tài thì phải đặt ở ngoài cửa, ngoài đường, không cho vào. Giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam từ chối không cho người ngoại đạo kết hôn với một người có đạo trước bàn thờ Chúa. Phật giáo Việt Nam không đòi hỏi cả hai người đều phải cùng một đạo Phật, nếu họ làm lễ kết hôn ở chùa.
Trong khoảng ba ngày sau khi cô dâu đã về nhà chồng, bên chồng sẽ cho đôi vợ chồng son đem một mâm lễ nhỏ về thăm cha mẹ cô dâu, đó là lễ lại mặt, còn gọi là lễ nhị hỷ.
Ngày xưa, các cô dâu dù mặc áo dài hay áo đầm trắng đều là những tấm áo của riêng mình chỉ mặc một lần duy nhất rồi cất giữ làm kỷ niệm. Bộ âu phục của chú rể tân thời thì sau đó được sử dụng thường xuyên. Ở Pháp, chiếc áo cưới là áo riêng của mình, cất giữ làm quà tặng cho con cháu, hay có người khi chết thì yêu cầu được mặc áo cưới để liệm vào quan tài. Ngày nay ở Việt Nam, các cô dâu, chú rể thường mặc áo cưới thuê, mướn, sau hôn lễ thì trả lại cho tiệm chuyên về dịch vụ cưới.
Ngày xưa, bước chân tôi đi ra khỏi nhà cha mẹ để lên máy bay đi du học còn nặng nề hơn là bước chân cô dâu về nhà chồng, vì trong thời chiến tranh, ai cũng nghĩ là một đi không về. Quả thật, một thân một mình bương bải „đánh vật“ với hoàn cảnh, điều kiện sinh sống ở nước ngoài đã rất khó khăn, lại còn những ngăn cách của thời chiến, nên ước mơ về lại quê hương thăm gia đình, bạn bè, nơi xưa chốn cũ, mồ mả tổ tiên…luôn là một sự thao thức không nguôi. Bây giờ, đầu đã bạc hai thứ tóc, nhìn bước chân cô dâu về nhà chồng trên đất Việt Nam tôi thấy họ sung sướng, có hạnh phúc được sống trong sự bảo bọc của gia đình, giúp đỡ của làng xóm, trong một xã hội còn tôn trọng ý nghĩa „gia đình là nền tảng của xã hội“, và đám cưới cổ truyền Việt Nam là một nghi lễ mà đời tôi không bao giờ có. MTT

Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.
(Ca dao Việt Nam)

Đám cưới chuột - Tranh Đông Hồ

Đám cưới chuột – Tranh Đông Hồ