Một toa tầu Hòa Bình và hai trận Đại chiến thế giới 1914-1918 và 1939-1945

Một toa tầu Hòa Bình và hai trận Đại chiến thế giới 1914-1918 và 1939-1945 – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2014 – http://mttuyet.fr

Bài viết này, để kỷ niệm 100 năm trận Đại chiến thế giới lần thứ nhất, trích trong tuyển tập các bài của Mathilde Tuyết Trần với chủ đề « Quê tôi nước Pháp« , sẽ xuất bản tại Pháp. MTT

Tượng đài chiến thắng của nước Pháp trong khu rừng Rethondes - Clairière de l'Armistice. Photo: MTT2013

Tượng đài chiến thắng của nước Pháp trong khu rừng Rethondes – Clairière de l’Armistice. Photo: © MTT 2013

Năm nay đặc biệt kỷ niệm 100 năm trận Đại chiến thế giới lần thứ nhất. Nhưng hàng năm, hàng triệu người của nhiều nước trên thế giới đều còn nhớ và tưởng niệm hai ngày lễ lớn rất có ý nghĩa, đó là ngày chấm dứt Đại chiến thế giới lần thứ nhất 11.11.1918 và ngày chấm dứt Đại chiến thế giới lần thứ hai 09.05.1945. Hiện nay nước Đức dùng ngày 11.11. vào lúc 11.11.giờ, ngày và giờ chính thức chấm dứt đại chiến theo văn bản hiệp ước ký kết, làm ngày mở đầu lễ hội Karnaval trên đường phố, vui chơi bia rượu để làm lãng quên ngày chiến bại.

Tại Pháp, ngày chiến thắng quân Đức Quốc Xã xảy ra sớm hơn một ngày, đó là ngày 08.05.1945. Đối với dân tộc Việt Nam thì năm 1945 là năm ghi dấu ấn đặc biệt, vì năm này với rất nhiều sự kiện diễn biến quan trọng đã mở ra một trang sử mới trong quá trình dành lại độc lập tự chủ của lịch sử Việt Nam.

Nhưng ít người còn nhớ đến một địa danh và một toa tầu rất đặc biệt vẫn còn đang hiện hữu. Đó là khu rừng Rethondes thuộc địa phận thành phố Compiègne và toa tầu Hòa Bình của cả hai trận đại chiến thế giới.
Một trong 37 toa tầu dùng để làm nhà hàng ăn được chế tạo vào năm 1913 và giao vào năm 1914 bởi xưởng Compagnie Générale de Construction tại Saint-Denis, chi nhánh của công ty Compagnie Internationale des wagons-lits, mang số hiệu 2419-D.

Được đưa vào hoạt động đầu tiên vào ngày 04 tháng 6 năm 1914 trên tuyến đường Saint-Brieuc, sau đó trên tuyến Le Mans (1915-1916), sau cùng trên tuyến xe lửa Deauville-Trouville (1918), toa 2419-D trở thành văn phòng làm việc của thống tướng Pháp Foch, đậu tại bộ chỉ huy đặt trong thành phố Senlis phía Bắc của Paris, sau khi đã được sửa sang lại. Toa tầu này đã đi vào lịch sử của hai trận đại chiến thế giới.

Toa tầu này đã được kéo đến một nhánh đường sắt nhỏ trên tuyến dẫn vào thành phố Compiègne và dừng lại trong khu rừng Rethondes thuộc địa phận Compiègne, cách Senlis 37 cây số vào ngày 07.11.1918. Một toa tầu thứ hai cũng được kéo đến làm chỗ ăn ngủ cho phái đoàn Đức.

Phe đồng minh được đại diện bởi thống tướng Pháp Ferdinant Foch, đô đốc Anh Rosslyn Wemyss, phó đô đốc Anh Hope và đại tướng Pháp Maxime Weygand. Phe Đức gồm có bộ trưởng Matthias Erzberger, tướng Detlof von Winterfeldt, bá tước Alfred von Oberndorff phụ trách ngoại giao, đại úy thuyền trưởng Ernst Vanselow, tướng von Gruennel. Hai thông dịch viên là hai sĩ quan Laperche (Pháp) và đại úy von Helldorff (Đức).

Cuộc thương lượng đình chiến giữa hai bên Pháp-Đức kéo dài từ 02 giờ sáng và đi đến kết quả vào lúc 5.20 giờ sáng ngày 11.11.1918, cuộc đình chiến đầu hàng của Đức được ấn định trên khắp các trận tuyến vào lúc 11 giờ sáng cùng ngày. Sau này, bộ trưởng Matthias Erzberger bị một tổ chức cánh hữu ám sát chết ngày 26.08.1921.

Đại chiến thế giới lần thứ nhất kéo dài 4 năm (1914-1918) cho đến nay vẫn được các sách sử công nhận là một sự hao phí nhân mạng khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Ngòi nổ là sự kiện ngày 28 tháng 6 năm 1914, một thiếu niên 19 tuổi tên là Gavrilo Princip, thuộc tổ chức khủng bố của những người trẻ tuổi Serben, thừa cơ lúc người điều khiển cỗ xe ngựa đang lúng túng quay lại vì rẽ vào nhầm đường, nhẩy lên xe, bắn ông bà Công tước Franz Ferdinand chết tại chỗ, người kế thừa ngai vàng nước Áo, tại thành phố Sarajevo, nơi hai nhân vật này đang đi tham quan.

Sự việc ám sát ông bà Công tước Áo tại Sarajevo đã làm cho thành phần chủ chiến chống Serbien trong triều đình Áo từ trước đến bấy giờ như được châm ngòi thuốc súng, vua Áo Franz Joseph cầu viện vua Phổ (Đức) Kaiser Wilhelm II. Nước Đức vốn có tham vọng làm chủ Âu châu nhận lời cầu viện ngay. Trong khi ấy, Nga hoàng đứng về phía Serbien, vì cũng muốn làm yếu thế hai triều đình Áo và Hung. Sợ sức bành trướng mạnh của vua Phổ, Pháp đứng về phía Nga hoàng, nhẩy vào cuộc chiến, kéo theo nước Anh, cho dù ba nước này thường hay có xích mích về các vấn đề thuộc địa. Vua Phổ Wilhelm II. đứng trước thế gọng kìm giữa Nga và Pháp, liền quyết định đánh Pháp ngay. Muốn tiến đánh Pháp thì phải xâm lăng nước Bỉ. Thế là ngày 04 tháng 8 năm 1914 quân đội của Wilhelm II. tấn công nước Bỉ, mở đầu cuộc đại chiến tàn khốc.

Hình ảnh còn ghi lại nhiều người đàn ông lên đường, cầm súng ra trận, vui vẻ chào tạm biệt người thân, hẹn đến mùa Giáng Sinh sẽ trở lại. Nhưng họ không ngờ sinh mạng của họ bị phung phí không một chút thương tiếc cho các ý đồ chính trị phân chia lại bản đồ chiếm đoạt đất đai nguồn lợi của các vương quyền trong chế độ quân chủ.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật bắt đầu vào đầu thế kỷ thứ mười tám, xuất phát từ nhu cầu giải quyết vấn đề nhiệt liệu. Nhiều sáng kiến khoa học kỹ thuật của các khoa học gia nổi tiếng đã làm thay đổi sự tiến triển của kỹ nghệ nặng như hầm mỏ, luyện sắt thép, công nghệ nhẹ như dệt, may, cũng như thay đổi xâu xa đến kiến trúc các tầng lớp xã hội.

Giữa thế kỷ mười chín, nhiều nạn đói và nhiều cuộc di dân lớn xẩy ra tại châu Âu và châu Mỹ. Dân chúng nghèo, đói, không biết đọc không biết viết, đổ xô về các vùng kỹ nghệ, các thành phố để kiếm công ăn việc làm. Xã hội dưới chính thể quân chủ của thế kỷ đó là xã hội phân chia giai cấp rất rõ rệt, từ quí tộc, trưởng giả cho đến công nhân, nô lệ.

Vua chúa tại các nước Âu châu đều hứa hẹn cải tổ xã hội, mà dưới chính thể quân chủ khi ấy, hai thành phần lớn, quý tộc trưởng giả và nông dân, đứng ở thế đối lập với nhau, thành phần trí thức và tôn giáo tất nhiên thiên về tầng lớp quý tộc trưởng giả. Sự xung đột giữa hai luồng tư tưởng khác nhau của Adam Smith, cổ võ guồng máy thị trường theo cung/cầu, tác dụng của việc làm giá và những ưu điểm của sự phân công lao động trong tác phẩm Der Wohlstand der Nationen (1776), và của Karl Marx và Friedrich Engels, trong cuốn „Kommunitische Manifest“ xuất bản năm 1848 tại Londres, với lời kêu gọi „Proletarier aller Länder, vereinigt euch!“ (Vô sản các nước, hãy đoàn kết với nhau !), gieo mầm móng cho cuộc đấu tranh kinh tế chính trị mới giữa hai học thuyết đối lập tạo nên hai chế độ đối lập: tư bản đối lập với cộng sản.

Điểm đặc biệt của trận Đại chiến thứ nhất là việc sử dụng các vũ khí mới như súng liên thanh, xe tăng, máy bay, lựu đạn, súng phun lửa, khí độc, nước Đức huy động khoảng 13,5 triệu đàn ông ra trận tuyến. Khi hòa bình trở lại vào cuối năm 1918, nước Pháp, thời ấy chỉ có một dân số vào khoảng 40 triệu, hy sinh 1.397.000 quân lính trên các trận tuyến, cộng thêm 40.000 người Pháp vùng Alsace đã chiến đấu trong hàng ngũ quân Đức, 40.000 dân thường tử nạn, 20.000 tù binh Pháp chết trên đất Đức, 3 triệu người bị thương trong đó có 600.000 người cụt chân cụt tay, hàng chục ngàn người chết dần mòn vì hơi ngạt, và hơn 1 triệu phế binh, nhiều người bị tàn phá khuôn mặt một cách rất nặng nề thê thảm (les gueules cassées).

Vết thương chiến tranh còn đọng trên vai những người phụ nữ mất chồng, con mất cha mất mẹ, người tình mất nhau… trong một thời hậu chiến rất lâu dài, cuối năm 1918 nước Pháp đếm 600.000 góa phụ, 700.000 trẻ mồ côi. Người dân Pháp hiện nay, dù 100 năm đã trôi qua mà họ vẫn còn khắc khoải đi tìm nơi chết, nơi chôn, nơi mất tích, dấu vết của thân nhân trong trận đại chiến thứ nhất mà vẫn chưa tìm thấy.

Còn kể chung tình hình các nước, trận Đại chiến thứ nhất đã giết chết 15 triệu người, trong đó có 6 triệu dân thường. Nước Đức mất 2,7 triệu, Áo-Hung mất 1,9 triệu, Nga mất 1,8 triệu, Anh mất 1,4 triệu nhân mạng.

Sự kết thúc Đệ nhất thế chiến đem lại cho nước Đức một hình phạt nặng nề, vì Đức bị nhận lãnh trách nhiệm gây chiến lớn nhất. Chế độ quân chủ Đức bị bãi bỏ.

Wilhelm II. là vua cuối cùng của đế quốc quân chủ Đức, rời khỏi bản dinh đóng ở Spa (Bỉ) đi Hòa Lan xin tỵ nạn ngày 10.11.1918 và được Hoàng gia Hòa Lan che chở. Wilhelm II. qua đời ngày 04.06. 1941 tại Haus Doom, Hòa Lan.

Đế quốc Áo-Hung cũng bị giải tán bởi hiệp ước Saint-Germain-en-Laye vào ngày 10.09.1919, đồng thời trục „Liên Kết“ (Anschluss) giữa Áo và Đức bị cấm hẳn.

Gia đình vua Anh, King Georg V. thuộc dòng họ Đức Sachsen-Coburg-Gotha, ông Albert von Sachsen-Coburg und Gotha là chồng của nữ hoàng Victoria (mẹ của bà, cũng thuộc dòng họ hoàng gia Đức, mang tên và họ là Victoria von Sachsen-Coburg-Saalfeld) – vì áp lực chính trị trong nước trong cuộc chiến tranh chống lại vua Phổ Wilhelm II., phải đổi tên dòng họ vua lại là Windsor – theo tên của lâu đài Windsor – vào ngày 17.07.1917.

Tại Hội nghị Hòa bình họp tại Versailles từ ngày 18.01.1919 đến ngày 23.01.1919 của phe thắng trận, điều khiển bởi năm cường quốc U.S.A., Pháp, Anh, Nhật và Ý – phe bại trận và nước Cộng hòa Nga non trẻ URSS không được mời tham dự, các biện pháp trừng phạt nước Đức về quân sự, kinh tế, tài chánh, chính trị và đạo lý được bàn thảo.

Sau ngày 23.03.1919 để công việc được tiến hành nhanh chóng, Hội nghị Hòa bình Versailles được điều khiển bởi một cố vấn gồm có Woodrow Wilson (Tổng thống Mỹ), Lloyd George (Thủ tướng Anh) và Georges Clémenceau (Chủ tịch cơ quan cố vấn Pháp). Ba mươi hai quốc gia trong phe thắng trận đồng ý phạt nước Đức bằng nhiều biện pháp. Một trong những biện pháp thuận lợi cho các nước thắng trận là vẽ lại bản đồ chính trị thế giới, cho thấy rằng giai đoạn các cường quốc Anh, Pháp, Nhật, Bỉ, Úc, Tân Tây Lan chia chiếm đóng các nước yếu làm thuộc địa đang ở cao điểm, nước Đức mất hết các thuộc địa đã chiếm hữu từ đầu thế kỷ thứ mười chín.

Sau Đại chiến thứ nhất toa tầu Hòa Bình lại được đưa vào sử dụng làm nhà hàng ăn trên tuyến Evreux. Nhưng chính phủ Georges Clemenceau yêu cầu được đem toa tầu này về trưng bày trong Bảo tàng lịch sử của quân đội Pháp. Nó được triển lãm trong sân danh dự của Les Invalides cho đến 1927. Đúng vào ngày kỷ niệm 11.11.1927 khu vực kỷ niệm ở khu rừng Compiègne, mang tên là Clairière de Rethondes, thì toa tầu, đã được tu sửa lại, và đã được kéo về đặt trong một tòa nhà xây riêng cho nó tại đây, được khai trương.

Cho đến Đại chiến thế giới lần thứ hai….

Đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945) bắt đầu nhen nhóm trên các chính trường từ sau các cuộc khủng hoảng kinh tế đầu những năm 30.

Nước Pháp đang trong thời Đệ tam Cộng hòa dưới quyền tổng thống Albert Lebrun, được bầu ngày 10 tháng năm 1932, lúc ông đã được sáu mươi mốt tuổi, sau khi tổng thống Paul Doumer bị ám sát. Albert Lebrun, thuộc cánh hữu (Union Républicaine), đã từng ba lần giữ chức Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa (Ministère des Colonies) từ 1917 đến 1920 của các Chính phủ Cuillaux, Poincaré, Doumergue và Clemenceau.

Trong khi ấy, Hitler trở thành Thủ tướng Đức Quốc Xã ngày 30.01.1933.

Kể từ đầu năm 1933 trở đi, tình hình chính trị bên Pháp rối như mớ bòng bong, cứ vài tháng lại thay một chính phủ mới. Dân Pháp đã phải lần lượt chịu đựng 16 lần thay đổi chính phủ dưới thời tổng thống Lebrun, các bộ mặt chính trị của các đảng phái tả, hữu, lên nắm quyền nối tiếp nhau. Năm 1939, Lebrun có thể rút lui, nhưng trước tình hình không thể tránh khỏi một cuộc chiến tranh tàn khốc đang diễn ra, Lebrun lại được bầu làm tổng thống thêm một nhiệm kỳ hai, cũng vì ông „dễ bảo“.

Ngày 10.06.1940 Lebrun dời chính phủ về Tours và tuyên bố bỏ ngỏ thủ đô Paris.

Trước tình thế đội quân của tướng Weygand đã bị tiêu diệt hết gần ba mươi sư đoàn và khi nước Ý đã tuyên bố khai chiến với Pháp cùng ngày 10.06.1940, thì chính phủ Paul Raynaud sợ trách nhiệm nặng nề trước lịch sử, xin từ chức vào ngày 17.06.1940.

Tổng thống Lebrun bèn mời thống chế Pétain tổ chức một chính phủ mới và sửa soạn xin đầu hàng quân Đức Quốc Xã (gọi là Armistice 1940) theo đề nghị của tướng bại trận Weygand, người đã từng đứng về phía chiến thắng năm 1918 !

Thống chế Henri Philippe Pétain, xuất thân từ một gia đình nông dân trong tầm mức gọi là khiêm tốn, sinh ngày 24.04.1856 tại Cauchy-la-Tour thuộc vùng Pas-de-Calais ở miền Bắc nước Pháp. Ông đi học tại trường nhà dòng les Dominicains, trước khi thi đậu vào trường huấn luyện sĩ quan Saint-Cyr năm 1876. Cuộc đời chiến binh của Pétain sẽ không có gì đáng kể, nếu không có trận Verdun. Trên cơ bản, Pétain khi là phó giáo sư tại trường Đại Học Chiến Tranh (École de guerre) năm 1904, bảo vệ lý thuyết xử dụng chiến tranh bảo vệ và chiến tranh phòng thủ với việc xây dựng những chiến lũy cố định, Pétain không chấp nhận lý thuyết chiến tranh toàn diện cũng như lý thuyết chiến tranh cơ động với những binh đoàn thiết giáp và một đội quân linh động như tướng trẻ Charles de Gaulle.

Từ tháng hai năm 1916, Pétain, khi ấy đã sáu mươi tuổi rồi, sau khi đã đoạt nhiều thành tích trong những trận đánh ở vùng Artois (Bỉ), được cử làm chỉ huy đội quân tại Verdun rồi trở thành người anh hùng chiến thắng trận Verdun, một trong những trận đánh tốn nhiều xương máu nhất của Đệ nhất thế chiến, vì thế ông rất được dân Pháp tôn sùng. Pétain được vinh phong Thống chế vào tháng 11.1918. Năm 1934, vào tuổi 78, Pétain trở thành Bộ trưởng Bộ Chiến Tranh của chính quyền Doumergue.

Tổng thống Lebrun chính thức trao quyền lãnh đạo chính phủ cho Pétain ngày 17.06. 1940. Ngày 10.07.1940 đa số dân biểu Quốc Hội và Thượng nghị viện giao toàn quyền quyết định tối hậu của chính thể Cộng Hòa cho Pétain, khi ấy đã được 84 tuổi. Pétain chỉ huy luôn cả quân đội và ban hành pháp luật chỉ bằng một chữ ký của ông. Đây là quyết định lịch sử đã chấm dứt thời kỳ Đệ tam Cộng hòa Pháp, và bắt đầu thời kỳ mới, dưới chính thể „ Quốc Gia Pháp“ (État Français).

Pétain đem chính phủ về đóng ở Vichy, vì thế ngày nay người ta còn gọi là Chính phủ Vichy hay „Chế độ Vichy“, một khái niệm lịch sử đặc biệt, tự phong là Nguyên Thủ Quốc Gia (Chef d‘Etat), nhưng vẫn để Lebrun tiếp tục giữ danh vị Tổng thống bù nhìn, trên thực tế Lebrun không còn một quyền hành nào cả, cho đến mãn nhiệm kỳ hai vào năm 1946.

Chính quyền độc tài Pétain dưới khẩu hiệu „ Lao động, Gia đình, Tổ Quốc“ (Travail, Famille, Patrie) ra đời. Mọi nhân viên hành sự trong chính quyền đều phải thề trung thành với Pétain. Quốc hội và Thượng nghị viện coi như bị giải tán và thay thế bằng cơ quan „Cố vấn quốc gia“ (Conseil national) nhưng rất hiếm khi được triệu tập.

Ngày 24.10.1940 Pétain gặp Hitler ở Montoire để cùng soạn thảo một chương trình hợp tác chung. Ở đây, tôi đặt câu hỏi, tại sao Pétain – một trong những anh hùng chống Đức thời Đệ Nhất thế chiến – lại muốn hợp tác với Đức Quốc Xã ngay từ đầu ?

Đứng về mặt chính trị thì Pétain được sự ủng hộ của toàn thể cánh hữu, cho đến cực hữu, để thực hiện các chính sách cai trị theo chủ trương và ý muốn của phía hữu. Một thành phần lớn của đảng Xã Hội cũng đứng sau lưng ông. Pétain hy vọng quân Đức Quốc Xã sẽ „để yên“ nước Pháp và chờ đợi hòa bình sẽ mau trở lại.

Tham vọng của Pétain khi đã trở thành nhân vật số một của nước Pháp là sẽ cùng với Hitler, hai nước Pháp và Đức, cùng chung một kiểu chế độ độc tài quân phiệt, lãnh đạo Âu Châu. Nhưng Pétain đã tính sai nước cờ và nhầm lẫn trong hy vọng, vì Hitler chỉ muốn lãnh đạo một mình và sẽ sử dụng các con bài khác (Laval) để hất cẳng Pétain. Pétain có ngờ rằng, quyết định đầu hàng Đức và Ý, nhượng bộ quân Nhật của mình đã tạo nên một biến chuyển cơ bản thất lợi cho đế quốc Pháp, trong sự việc nổi dậy của các thuộc địa ?

Đứng về mặt quân sự, Pétain và các vị tướng trung thành khác, cho rằng thiết bị quân sự của Pháp đã lỗi thời, lực lượng quân đội yếu kém, thiếu tổ chức, thiếu tập luyện, không có phương án, không có tướng giỏi cầm quân, không có chiến xa, cũng như không có máy bay, ngân quỹ quốc phòng thiếu hụt, trước một lực lượng quân Đức Quốc Xã hùng hậu, có chuẩn bị, quân đội Pháp chùn bước, một mình quân Pháp sẽ không chống lại nổi quân Đức, chẳng thà đầu hàng trước để tránh thiệt hại.

Pétain đã đưa hàng triệu đàn ông nước Pháp đi lao động cưỡng bách – mà đến giờ những người còn sống của thế hệ này vẫn còn kể mỗi ngày cho con cháu nghe những kỷ niệm đẫm máu không thể nào quên, những người lính kiên trì của chiến lũy Maginot bị bắt làm tù binh của Đức không thể nào hiểu nổi những suy tính chiến lược của Pétain.

Giới tuyến phòng thủ Maginot (la ligne Maginot) dọc theo biên giới Pháp từ Bắc xuống Nam qua các nước Bỉ, Thụy Sĩ, Ý – giống như ý tưởng xây dựng Vạn Lý Trường Thành bên Tầu – được xây dựng từ năm 1925 dưới thời Bộ trưởng Painlevé, rất quy mô ở độ sâu 30 thước dưới mặt đất, theo kế hoạch đặt ra kể từ khi Đệ Nhất thế chiến chấm dứt của ba Thống chế Foch, Pétain và Joffre, nhằm mục đích ngăn chặn mọi cuộc tấn công vượt biên giới của kẻ thù trong tương lai. Năm 1929 kế hoạch phòng thủ này được giao cho André Maginot.

Nhưng khi chiến tranh lại xảy ra, một lần nữa quân đội Đức lại vượt biên giới sang Pháp, lần này với những chiến xa linh động, súng liên thanh hạng nặng, mà quân lính Pháp đóng ở chiến tuyến Maginot không thể ngăn cản sự tiến quân của Đức được, dù họ rất cam đảm hy sinh cố thủ. Sự thất bại của ý tưởng chiến tuyến Maginot theo chiến lược cố hữu của Pétain, cố thủ và bất động, trở thành đề tài chê cười đến tận bây giờ.

Đứng về mặt tâm lý mà nói thì sự thiệt hại về nhân mạng và tài sản của nước Pháp trong Đệ nhất thế chiến quá lớn, thành phần thương binh với những tàn tật nặng nề còn phải được săn sóc nuôi dưỡng, nhiều gia đình vẫn còn tìm kiếm thân nhân coi như là mất tích vì không biết còn sống ở đâu hay đã chết trong chiến tranh, dân chúng Pháp có lẽ – theo sự đánh giá của chính quyền Lebrun và Pétain – không chín mùi cho một tinh thần quyết chiến chống Đức Quốc Xã. Nhưng lỗi không phải do dân chúng nhụt chí.

Tổng thống Lebrun bị Đức đem về giam ở Kufstein (Tyrol), được trả tự do khi chiến tranh kết thúc, được di chuyển trở về Pháp cho ở trong lâu đài Chateau de Vizille đến khi qua đời năm 1950.

Khi ấy, ngày 16.06.1940, tướng De Gaulle đi Londres xin viện trợ thiết bị quân sự và phương tiện di chuyển để xây dựng lực lượng tại phía Bắc châu Phi, thủ tướng Anh Churchill chấp nhận cấp viện trợ. Nhưng khi De Gaulle vừa mới từ Londres trở về Bordeaux vào lúc 21. 30 ngày 17.06, thì được tin chính phủ Paul Reynaud đã từ chức.

Rồi, đúng nửa đêm ngày 17.06.1940 Pétain xin đầu hàng quân Đức. De Gaulle bèn quay ngay trở lại Londres, rồi sau một cuộc tiếp xúc với Churchill, De Gaulle đọc Lời kêu gọi kháng chiến chống Đức vào lúc 20 giờ ngày 18.06.1940 trên đài phát thanh BBC …„ Bất kỳ tình huống nào có thể xẩy ra, ngọn lửa kháng chiến của nước Pháp không thể bị dập tắt và sẽ không bao giờ tắt. „. Và cũng vì thất bại của Weygand mà De Gaulle đã viết trong Lời kêu gọi kháng chiến một câu nổi tiếng « Nước Pháp đã thất bại một trận đánh! Nhưng nước Pháp chưa thất bại cuộc chiến! ».

Sau đó, De Gaulle bị chính phủ Pétain kết án tử hình vắng mặt, lột chức quân sự và tịch thu tài sản, thông qua tòa án quân sự Clermont-Ferrand ngày 02.08.1940. Ngày 03.06.1944 một Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Pháp được thành lập do tướng De Gaulle làm chủ tịch.

Nước Pháp phải nộp cho Đức trong suốt thời gian bị chiếm đóng mỗi ngày 400 triệu quan Pháp, đủ thấy chính phủ Pétain phải vơ vét khắp nơi để nộp đủ tiền cho Đức. Pháp bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, chia ra làm hai vùng: vùng chiếm đóng gồm toàn thể vùng biển Manche phía Bắc bọc qua toàn thể vùng biển Đại Tây Dương phía tây, còn ở trung tâm đến tận thành phố Vichy.

Chính phủ Pétain-Laval quản lý phần còn lại về phía Đông và Nam, gọi là vùng tự do, nhưng sau đó Đức Quốc Xã bất chấp hiệp ước, coi như xóa bỏ luôn ranh giới giữa hai vùng. Năm 1941 tình hình thực phẩm tại Pháp thiếu hụt trầm trọng, mỗi đầu người chỉ được mua 275 gram bánh mì cho một ngày, đó là cân lượng của một ổ bánh mì hay một cây bánh mì dài (baguette).

Trong ngày „dài nhất“ – le jour le plus long(the longest day), ngày 06.06.1944, quân đội Đồng Minh, phối hợp với quân kháng chiến Pháp, đổ bộ trên bờ biển vùng Normadie vào đầu mùa hè, thời tiết đã ấm và nước biển bớt lạnh giá, tấn công quân Đức Quốc Xã, mở đầu cho cuộc chiến thắng chấm dứt Đại chiến thế giới lần thứ hai.

Ngày 26.08.1944 De Gaulle cùng hai tướng lãnh Leclerc và Juin tiến vào giải phóng và tiếp quản thủ đô Paris. Chỉ riêng trận đánh tại Paris đã có 2.800 quân Đức Quốc Xã bị giết, nhưng tổn thất về lực lượng kháng chiến và thường dân cũng khá lớn: 3.000 người bị giết và 7.000 bị thương. Riêng Đại đoàn thiết giáp của Leclerc cũng bị mất 130 lính và 319 bị thương.

Laval bị quân Đức Quốc Xã giải về Đức vào tháng tám 1944. Năm 1945 Laval trốn được qua Tây Ban Nha, nhưng bị Franco bắt giao cho Hoa Kỳ, rồi bị giao trả lại cho chính quyền Pháp. Laval bị kết án tử hình vì ông ta đã hành động phối hợp rất chặt chẽ với Đức Quốc Xã. Hôm xử án, Laval tìm cách tự tử, nhưng bị các bác sĩ điều trị, đặt ông lên một chiếc ghế ngồi để bị xử bắn.

Pétain, bị quân Đức đem theo về Belfort, rồi Simaringen. Pétain trở lại Pháp vào tháng tư 1945, bị kết án tử hình ngày 15.08.1945, nhưng được tướng de Gaulle, nghĩ đến công trạng của Pétain trong thời Đệ nhất thế chiến, ân xá. Pétain bị quản thúc ở đảo Yeu (l‘ile d‘Yeu) và chết ở đấy.

Ngày 30.04.1945 Hitler cùng vợ là bà Eva Braun tự tử trong hầm Lãnh tụ tại Berlin. Ngày hôm sau, 01.05.1945, sau khi đã giết chết sáu đứa con bằng thuốc độc, Goebels và vợ, Magda, cũng tự tử theo, tại Berlin. Đô đốc von Dönitz người được Hitler chỉ định nối nghiệp lãnh đạo Đức Quốc Xã kêu gọi trên làn sóng điện tiếp tục chiến tranh ở mặt trận phía đông.

Nhưng ngày 06 tháng năm von Dönitz gởi một phái đoàn ba người gồm có các tướng lãnh Alfred Jodl, von Friedeburg và Wilhelm Oxenius đến Reims. Ngày 07.05.1945 quân đội Đức Quốc Xã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, tướng Alfred Jodl ký hiệp định đầu hàng của toàn thể quân đội Đức Quốc Xã ngày 07.05.1945 tại Reims chấm dứt Đại chiến thứ hai tại Âu châu, trước đại diện quân Đồng Minh là tướng Mỹ Walter B. Smith, tham mưu trưởng của Eisenhower, tướng Sousloparov của quân đội Liên Xô, và tướng Pháp François Sever, đại diện cho tướng De Gaulle.

Năm 1940, để hạ nhục nước Pháp, Hitler bắt buộc Chính phủ Pháp ký hiệp ước đầu hàng trong chính toa tầu ở trong rừng Rethondes thuộc địa phận Compiègne, nơi mà trước đây quân Đức đã phải ký hiệp ước đầu hàng năm 1918. Quân Đức cho phá tòa nhà chứa toa tầu để lôi nó ra vào ngày 20.06.1940, đặt đúng ngay chỗ cũ của năm 1918.

Ngày 21.06.1940 Hitler và những sĩ quan cao cấp Đức Quốc Xã lên toa tầu này trong ngày thương lượng đầu tiên. Hiệp ước đình chiến và đầu hàng của Pháp đối với Đức được ký ngày 22 tháng sáu 1940 vào lúc 18 giờ 35 bởi tướng Huntziger, đại diện Pháp, và tướng Keitel, đại diện Đức.

Ngay ngày 24.06.1940 toa tầu Hòa Bình này được quân Đức kéo về tận Berlin, xem như là phẩm vật chiến thắng quan trọng của Đức Quốc Xã và đem lại danh dự cho nước Đức. Nó được trưng bày ở cổng thành chiến thắng Brandenburger Tor và công viên Lustgarten, để kêu gọi dân chúng Đức đóng góp cho chiến tranh.

Sau đó số phận nó long đong, bị kéo đi di tản khỏi Berlin vào năm 1944. Rồi vào tháng 4.1945 theo lệnh của Hitler, chỉ một tháng trước khi Đức Quốc Xã đầu hàng vào tháng 5.1945, toa tầu này bị quân đội SS cho nổ tung và đốt cháy thiêu rụi ở Crawinkel, thuộc địa phận Gotha của tiểu bang Thüringen (Đông-Nam Đức). Chứng tỏ lòng hận thù thua trận của họ rất là thâm sâu. Sau này, vài mẩu còn lại của toa tầu lịch sử được giao trả lại cho Pháp, được trưng bày trong bảo tàng viện hiện nay.

Đài chiến thắng của Pháp trong khuôn viên bảo tàng ở rừng Rethondes với hình tượng mũi gươm Pháp đâm xuyên qua con đại bàng Đức gẫy cánh gục chết trên mặt đất cũng bị Hitler hạ lệnh phá hủy hình tượng, thay vào đó là lá cờ Đức quốc xã. Sau khi Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc, nước Pháp lại cho thiết kết lại hình tượng chiến thắng như cũ, một biểu tượng chiến thắng rất đau nhức cho người Đức đến hiện nay.

Năm 1950, một toa tầu khác mang số hiệu 2439D đã được chế tạo cùng một loạt với toa tầu đã bị đốt cháy, được thiết kế nội thất lại cho giống y hệt toa cũ, được trưng bầy thay thế toa cũ trong khu vực tưởng niệm hai trận đại chiến mới được thành lập và khai trương đúng ngày chiến thắng 11.11.1950.

Thành phố Compiègne hiện nay có 40.517 dân cư (thống kê 2010), cách thủ đô Paris chỉ có 65 cây số về hướng Bắc. Lịch sử của thành phố này dài từ dòng vua Merovingiens trải qua nhiều thời đại thăng trầm.

Chính nơi đây nữ anh hùng dân tộc Jeanne d’Arc đã bị phản bội và bị bắt giữ, trước khi bị đem đi thiêu sống trên dàn lửa ở Rouen. Compiègne khi xưa là khu vực săn bắn thú rừng và nghỉ ngơi của vua chúa Pháp, vì các khu rừng có nhiều thú và không xa cung điện Versailles là bao nhiêu, nên Compiègne có một lâu đài khá to lớn, nguy nga.

Chính tại khu rừng Rethondes nơi đây, vua Louis XV và hoàng thái tử (dauphin) đã đến đón công chúa Marie-Antoinette của triều đình Áo ngồi cỗ xe ngựa sang kết hôn với hoàng thái tử (Louis XVI), một cuộc tình duyên kết thúc với hai bản án tử hình sau này.

Chính nơi đây hoàng đế Napolélon I. (Nã Phá Luân đệ nhất) đã gặp công chúa Marie-Louise von Österreich lần đầu tiên, bị cha là hoàng đế nước Áo Franz II ép phải lấy Napolélon.

Cũng chính tại thành phố này, một trại tập trung người Do thái mang tên Camp de Royallieu đã được thiết lập từ tháng 6-1941 cho đến tháng 8.1944, khoảng 53.000 người Pháp gốc Do thái, thành viên đảng cộng sản, người tàn tật, người du mục Roma….đã được gom về đây để được chuyển đi thủ tiêu tại các trại tập trung khác tại Đức.

Thành phố Compiègne ngày nay mang mầu sắc cánh hữu đến cực hữu (UMP, FN), dân tình không mặn mà với người « lạ » tìm đến nhập cư, sinh sống, phong cách trưởng giả, bảo hoàng, kiêu kỳ của người dân cũng không mấy gì thích hợp với du khách, nên đời sống ở thành phố này khá êm ả, phẳng lặng, thiếu sinh động cởi mở, mang tính cách cục địa thuần túy, cho nên ít có người còn nhớ đến và đi thăm toa tầu Hòa Bình của hai trận đại chiến.

Hôm nay, tôi đưa bạn từ Đức lặn lội đến thăm toa tầu « Hòa Bình » của hai trận đại chiến, một ít du khách người Anh cũng lưu lạc đến đây, mùa hè sũng nước đang bị mùa thu chiếm chỗ, lá trên cây đang bắt đầu vàng, gió thổi qua làm lá mới úa vội vàng rơi rụng. Chúng tôi đứng giữa hai đường rầy xe lửa, bên trái là nơi đậu của đoàn xe Pháp, bên phải là nơi đậu của đoàn xe Đức, đọc hàng chữ khắc ghi thật to trên bia đá đặt ở giữa, mà cảm thấy buồn. Bạn tôi cũng nghĩ như tôi, lòng tham vô tận của con người về tiền của và quyền lực, cùng với mối thù hận không nguôi là hai nguyên nhân sâu thẳm nhất của mọi cuộc chiến tranh, tàn phá, giết chóc tang thương, chia rẽ. MTT2014

Nơi đoàn tàu của Pháp được kéo đến trong khu rừng Rethondes

Nơi đoàn tàu của Pháp được kéo đến trong khu rừng Rethondes, hiện nay mang tên Clairière de l’Armistice, phía sau là tòa nhà bảo tàng chứa toa tầu lịch sử. Photo MTT 2013

Toa tầu được xây dựng lại y theo nguyên mẫu. Photo MTT 2013

Toa tầu được xây dựng lại y theo nguyên mẫu. Photo MTT 2013

Bên trong toa tầu Hòa Bình, phía bên chỗ ngồi của phái đoàn Đức – Photo ©Mathilde Tuyet Tran, France 2014 – http://mttuyet.fr