Tổng thuật thói hư tật xấu người Việt (Phần 3)

Tổng thuật thói hư tật xấu người Việt (Phần 3) – Trần Văn Chánh

Xét tật người Việt hiện đại

Về việc xét tật mình để cầu tiến bộ cho dân tộc thì giới trí thức Việt Nam ta cũng đã có làm, coi như song song và cùng thời với Trung Quốc, chủ yếu từ đầu thế kỷ XX. Như ở một phần trên, chúng tôi đã tóm tắt lại những ý kiến nhận xét của các bậc tiền bối liên quan thói hư tật xấu của người Việt từ công trình sưu tập của nhà văn Vương Trí Nhàn, và cũng từ công trình có thể gọi đầu tiên và độc đáo này trong thời hiện đại, mặc dù chưa xuất bản chính thức, chúng ta thấy giới trí thức Việt Nam hiện nay đã bắt đầu có không ít người chú ý đặt lại vấn đề đổi mới đất nước nhằm thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu theo hướng tiếp cận cội nguồn văn hóa, lịch sử vốn là nguyên nhân gây nên những thói hư tật xấu như là căn tính của người Việt để tìm cách sửa chữa từ căn bản, thay vì cứ tiếp tục công kích vào những hiện tượng tiêu cực xã hội lẻ tẻ cứ ngày một phát sinh, gia tăng, kéo dài, và hầu như vô phương cứu chữa.

Trước Vương Trí Nhàn, có thông tin cho biết hai cố Giáo sư Trần Quốc Vượng và Cao Xuân Hạo đã từng bày tỏ ý định sẽ viết sách về thói xấu người Việt, nhưng rất tiếc chưa bắt tay vào việc thì họ đều đã qua đời.

Trong một bài trả lời phỏng vấn báo Tiền phong cho chủ đề liên quan cuốn sách đương làm về thói hư tật xấu người Việt, nhà văn-nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng “Thông thường thì gọi là thói hư tật xấu của người Việt Nam, nhưng thực ra nó là trình độ sống, trình độ làm người của người Việt Nam… Điều quan trọng bây giờ là tự nhận thức mình xem anh là người thế nào, anh là ai. Tất cả tương lai của dân tộc nằm trong hành động này… Một trong những thói xấu của người Việt Nam là rất sợ nói đến thói xấu… Cả xã hội đóng băng trong sự tự khen thưởng… Nhưng thói xấu lớn nhất vẫn là sợ người khác nói xấu mình. Làm ăn với nước ngoài mà cứ lấy tinh vặt (ranh ma, khôn vặt) làm kế sinh lãi. Tôi rất không đồng ý với cuốn Thần đồng đất Việt, vì trong đó toàn ca ngợi cái tinh vặt, láu cá của người Việt khi làm ăn với ngoại quốc. Cái đó không đáng tự hào”.

Thật ra, công việc phê bình những thói xấu/ khuyết tật của người Việt, các phương tiện truyền thông như báo, đài trong nước vẫn thường làm, đặc biệt khi có xảy ra những chuyện xấu như bẻ hoa trong hội hoa xuân, giẫm đạp chen lấn nhau trong các kỳ lễ hội, hôi của…, nhưng việc phê bình còn lẻ tẻ, thiếu tính hệ thống. Từ ngày 24/9/2006, báo Tiền phong (cả trên báo giấy và báo điện tử) đã sớm có sáng kiến mở chuyên mục “Người Việt-Phẩm chất và thói hư tật xấu” như một diễn đàn để thu thập ý kiến rộng rãi từ phía bạn đọc (chủ yếu ở khu vực miền Bắc), “ngõ hầu cảnh tỉnh chung, trước hết thoát khỏi ‘thói xấu lớn nhất của người Việt là rất sợ nói về thói xấu của mình’”, và một phần nội dung quan trọng của diễn đàn này đã được tuyển chọn biên tập lại thành sách (xem Nhiều tác giả, Người Việt-Phẩm chất và thói hư tật xấu, Nxb Hồng Đức, 2013). Gần đây, nhân câu chuyện cô tiếp viên hàng không bị phát hiện xách hàng ăn cắp bên Nhật, người Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước đều cảm thấy như đạp phải gai vì xấu hổ lây, từ đó lại dấy lên một cao trào tự kiểm điểm thói xấu của người Việt, thể hiện sôi nổi qua mấy tờ báo lớn trong nước (như Tuổi trẻ…), cũng như trên một số trang mạng xã hội.

Bằng cách tổng kết lại từ các diễn đàn khoảng gần chục năm nay liên quan đến vấn đề đang xét, chúng ta sẽ có được một cái nhìn tổng quan về những thói xấu/ khuyết tật tồn tại qua nhiều thế hệ (thậm chí thế kỷ) ở đất nước ta song vẫn chưa khắc phục được.

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi tình cờ tìm thấy bài viết “Chỉ tên những tật xấu của người Việt thời nay” của TS Phạm Gia Minh đăng trên Tuanvietnam.net ngày 25/8/2008. Trong bài, tác giả đề nghị hãy cùng nhau lên một danh mục, tạm gọi là “Danh mục các thói hư, tật xấu của người Việt thời nay” nhằm “vạch mặt, chỉ tên” càng chính xác càng tốt những biểu hiện tinh vi và đa dạng của nó.

Theo tác giả, thời trước cũng có “người Việt xấu xí”, “nhưng có lẽ trong kỷ nguyên của hội nhập quốc tế hôm nay, vì lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, chúng ta cần có thái độ tự phê phán cao hơn, khi phải hàng ngày hàng giờ tự soi mình vào tấm gương toàn cầu hóa, để phát hiện ra và tích cực sửa những nét lạc lõng, dị biệt với mọi giá trị nhân văn của thế giới văn minh”.

Sau khi đưa ra hai thói xấu phổ biến điển hình hiện nay ở Việt Nam là đua xe và tham nhũng, chỉ ra cách khắc phục cụ thể cho từng trường hợp, với niềm xác tín vào khả năng “đẩy lui được con bệnh”, tác giả đã thử phác thảo danh mục các thói hư tật xấu của người Việt thời nay (xếp theo bảng chữ cái tiếng Việt), như sau:

A: An phận thủ thường; Ăn bẩn; Ăn người; Ăn cắp vặt; Ăn hơn, làm kém; Ăn tục nói phét; Ảo tưởng; Ăn xổi ở thì; Ẩu v.v…

B: Bàng quan; Bảo thủ; Bằng cấp giả; Bán trời không văn tự; Bài ngoại; Bắt cóc bỏ đĩa; Bóc ngắn, cắn dài; Bè phái;  “Buôn dưa lê”; Bới bèo ra bọ v.v…

C: Cãi nhau to vì chuyện nhỏ; Chen ngang khi phải xếp hàng; Chọc gậy bánh xe; Chụp giật; Chửi bậy, cục súc; Cờ bạc; Coi thường pháp luật; Cù nhầy; Cửa quyền; Cười không đúng chỗ, đúng lúc v.v…

D: Du di; Dị ứng tri thức; Dzô dzô (ăn nhậu thái quá) v.v…

Đ: Đâm bị thóc, chọc bị gạo; Để bụng; Đỏ đen; Đố kỵ; Đùn đẩy; Đua xe v.v…

E: Ép buộc; Ép uổng v.v…

G: Gắp lửa bỏ tay người; Gia trưởng; Giả dối; Giàu ghen, khó ghét; Giậu đổ bìm leo v.v…

H: Hách dịch; Hiếu chiến; Hòa cả làng; Hô khẩu hiệu suông; Hứa hão; Hút thuốc lá v.v…

I:  Ích kỷ hại người v.v…

K:  Khoe khoang; Khôn lỏi; Không đúng giờ; Không chính kiến; “Khuỳnh”; Kỳ vĩ v.v…

L: Làm láo, báo cáo hay; Làm liều; Làm theo phong trào; Lập lờ nước đôi; Lệ làng; Lý nhẹ hơn tình v.v…

M: Mạnh ai nấy chạy; Mất đoàn kết khi sung sướng, đầy đủ; Mê tín v.v…

N: Ném bùn sang ao; Nịnh trên nạt dưới; Nhai to; Nhậu nhẹt triền miên; Nhổ bậy; Nhếch nhác; Nghĩ ngắn hạn (tư duy nhiệm kỳ); Ngoáy mũi nơi đông người; Nói dai, nói dài, nói dại; Nói một đằng, làm một nẻo; Nói to nơi công cộng; Nói phách (nói khoác lác); Nể nang; Nửa vời v.v…

O: Oai hão; Ôm đồm; Ôm rơm rặm bụng; Ông giơ chân giò, bà thò nậm rượu (thông đồng làm việc khuất tất) v.v…

P: Phép vua thua lệ làng; “Phong bì” (hối lộ); Phô trương; Phung phí v.v…

Q: Qua cầu rút ván; Qua loa đại khái; Quan liêu; Quan trọng hóa vấn đề; Quy hoạch treo v.v…

R: Ra oai; Ranh vặt; Rượu chè v.v…

S: Sai hẹn; Sĩ diện hão; Sính ngoại; Sợ trách nhiệm; Sợ người khác giỏi hơn mình v.v…

T: Tâm lý vùng (địa phương hẹp hòi); Tiểu nông, tiểu trí; Tiểu xảo; Tiểu khí (tiểu nhân, hạn hẹp); Tham nhũng; Thấy kẻ sang bắt quàng làm họ; Thụ động; Tư duy nhiệm kỳ; Tự ti dân tộc nhược tiểu v.v…

U: Ưa xiểm nịnh; Ức hiếp kể yếu; Ừ hữ cho qua; Ương ngạnh v.v…

V: Vặt vãnh; Vẽ vời; Vênh váo; Vị kỷ; Vị nể; Viển vông; Viết, vẽ bậy nơi công cộng; Vòi vĩnh; Vung tay quá trán v.v…

X:  Xa dân; Xa rời thực tế; Xả rác nơi công cộng v.v…

Y:  Ỷ lại; Ỷ quyền thế; Ý thức tập thể, cộng đồng kém v.v…

Xét danh mục trên đây, thấy có một số điểm (tật xấu) được nêu ra trùng lặp, như “Nghĩ ngắn hạn” với “ Tư duy nhiệm kỳ”… Một vài điểm khác có lẽ cũng chưa nên liệt hẳn vào tật xấu, như “Hút thuốc lá”, vì đây kể như thuộc cái chung “nhân loại” mà dân tộc nào cũng có… Bảng danh mục trên đây cũng chưa tách bạch, mà trộn lẫn, giữa những thói xấu thuộc sinh hoạt cá nhân (như Nhổ bậy, Ngoáy mũi nơi đông người…) với sinh hoạt cộng đồng (Chen ngang khi phải xếp hàng, Đua xe, Viết vẽ bậy nơi công cộng, Xả rác nơi công cộng …); giữa những khuyết tật/ nhược điểm về đầu óc-tư duy-tư tưởng (như Ăn tục nói phét, Ảo tưởng, Bảo thủ, Thụ động, Ương ngạnh, Vênh váo, Viển vông, Ỷ lại…) với nhân sinh quan/ thái độ sống (như An phận thủ thường, Vị kỷ…); giữa những quan hệ cá nhân (như Ưa xiểm nịnh, Ức hiếp kẻ yếu…) với hành vi có tính chất công quyền do cơ chế quản lý bất hợp lý gây ra (như Cửa quyền, Hô khẩu hiệu suông, Làm láo báo cáo hay, Làm theo phong trào, Phong bì/ Hối lộ, Quan liêu, Quy hoạch treo, Tham nhũng, Tư duy nhiệm kỳ, Xa dân, Xa rời thực tế…).

Trong bài viết “Tính xấu của người Việt Nam” (đăng ngày 10/02/2012 trên trang mạng chungtoimuontudo), ông Phan Nhật Nam mạnh dạn đưa ra nhận định: “Dân tộc Việt Nam, ngoài những điểm ưu việt ghê gớm mà các dân tộc khác trên thế giới không có, còn có những khuyết điểm, hay nói huỵch toẹt ra là những thói xấu, mà các dân tộc kia không thể nào sánh nổi cho dù họ có cố gắng học hỏi hay bắt chước chúng ta cách mấy đi nữa. Những thói xấu này giải thích tại sao người Việt Nam mà chúng ta vẫn luôn luôn tự hào là thông minh xuất chúng đến như vậy mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc lụn bại, trầm luân nhứt thế giới, tính cho đến cuối thiên niên kỷ này. Những thói xấu của người mình thiệt ra khá nhiều, nhiều hơn mức bình thường. Người viết bài này chỉ gạn lọc và trình bày một số tính tiêu biểu đã gián tiếp hay trực tiếp đóng góp vào tình trạng đất nước Việt Nam ngày càng xơ xác, tiêu điều, các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại ngày càng tiếp tục chia rẽ, phân hóa tưởng như không bao giờ hàn gắn được”.

Rồi trước khi phân tích, chứng minh, tác giả nêu ra một loạt những thói xấu ông cho là tiêu biểu: không tôn trọng sự thực và lẽ phải; khoe khoang và kiêu ngạo; cố chấp và ngoan cố; độc tôn; kỳ thị; tàn ác; thiếu cao thượng và ưa chơi gác; phe đảng; thiển cận; ganh ghét; thích làm vua làm chúa; không công tâm; không tôn trọng luật lệ; cướp công của người khác; ưa nịnh bợ, tâng bốc; thích ăn hối lộ; tham lam; không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc; không tuân giữ các cam kết…

Căn cứ vào những ý kiến có được từ một số diễn đàn “xét tật mình”/ “thói hư tật xấu người Việt” do các báo Tuổi trẻ, Tiền phong (online) và vài trang mạng xã hội khác thực hiện trong khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4/2014, chúng tôi xin phép được lượm lặt để bổ sung vào hai bảng danh mục nêu trên, về đủ loại thói hư tật xấu/ căn bệnh tư tưởng của người Việt chúng ta hiện nay (tên gọi những thói hư tật xấu có đánh dấu hoa thị * bên trên là do chúng tôi ghi nhận thêm). Có thể kể với sự phân loại tương đối như sau:

Thói xấu thuộc hành vi cá nhân: Đua đòi (ai cũng muốn sắm xe máy, điện thoại di động…);* Thích người này hát để người khác khen hay, cùng nhau vỗ tay khen thưởng; Thói hiếu kỳ, bàng quan (“xúm đông, xúm đỏ” mỗi khi có tai nạn giao thông, đám đông hiếu kỳ bu xem…); Bàn tán chuyện ngoài đường chẳng dính đến mình; Tò mò, thích kể chuyện đời tư người khác; * Tật ngồi lê đôi mách;* Mừng trên sự thất bại của người khác;* Thích công kích người khác theo kiểu nhạo báng chua cay, châm chích rẻ tiền;* Nhặt được của rơi không trả;* Lời lẽ xúc phạm thiếu văn hóa trong hoạt động nghiên cứu (như gọi vua Gia Long là “y” là “hắn”, gọi phe đối nghịch với mình là thằng này bọn nọ…);* Khiêm tốn quá mức; Nói về người khác nhiều mà ít suy nghĩ về chính bản thân mình; Quan cách, khách sáo; Tính ghen ghét, tùy tiện; A dua, tát nước theo mưa; Láu cá (kiểu Trạng Quỳnh…); Không muốn ai hơn mình (cái gì cũng muốn phải hơn người khác, người này mở nhạc thì người khác phải mở to hơn…); Ghét người giàu;* Nói xấu sau lưng người khác;* Háo danh (thích được tuyên dương, nhận giấy khen, bằng khen…);* Hiếu chiến, hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục; Hay cãi vã; Chửi thề (kể cả học sinh nữ…);* Dốt hay nói chữ;* Tốt khoe xấu che; Dối trá; Nói đâm vào họng kẻ khác;* Sĩ diện không đúng chỗ (sĩ diện hão); Tham lam nhỏ mọn vô lối (tranh giành nhau từng tấc đất…);* Tài khôn (khôn vặt, ưa tỏ ra mình giỏi);* Lúng túng, không tự nhiên khi giao tiếp; Hay cậy thế nhờ vả họ hàng và quan chức; Nói nước đôi lập lờ không rõ ràng;* Dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng; Xởi lởi, chiều khách, song không bền; Hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời); Mất đoàn kết, tương thân, tương ái khi có điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn; Không tiết kiệm hay tâm lý thích tiêu xài phung phí; Thích hưởng thụ mà không chịu trả phí (thích xài mọi thứ nhưng không muốn mất tiền, sử dụng điện thoại “chùa” nơi công sở…); Thói giả dối hay căn bệnh “sống hai cuộc sống” …

Thói xấu trong sinh hoạt: Quá coi trọng chuyện ăn uống (thôi nôi, sinh nhật, mừng thi đỗ, mừng có việc làm, mừng trúng thầu dự án, mừng mua xe mới nhà mới…); Ngồi các kiểu ở chỗ đông người; Lãng phí thời gian (ngồi lê đôi mách, nhậu nhẹt quá mức không biết tiết kiệm thời giờ vàng bạc); “Ăn nhanh, đi chậm, hay cười/ Thích “chơi đồ cổ” (mua đồ cũ) là người Việt Nam”; Cười nói to, ồn ào nơi công cộng; Thích tiếng động (kèn trống, đốt pháo…);* Khạc nhổ bừa bãi; Không có phong thái lịch sự khi giao tiếp (ít biết nói “cám ơn, xin lỗi, vui lòng…”); Phóng uế, tiểu tiện bừa bãi; Ăn uống/ ăn ở mất vệ sinh (chế biến thực phẩm, cầu tiêu trên sông…); Xả rác tùy tiện (xả rác vô tội vạ, đổ nước bẩn ra đường…)…

Thói xấu trong ứng xử với cộng đồng: Đấu đá nghi kỵ lẫn nhau; Vô cảm (với nỗi khó khăn, cảnh khổ của người khác);* Không quan tâm tới luật lệ giao thông (vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, chạy cho kịp giờ, chạy xe bạt mạng…); Ý thức chấp hành kỷ luật kém; Tính tùy tiện vô tổ chức (tự do vô tội vạ); Ý thức cộng đồng kém (quảng cáo cột điện nhiều vô kể…); Ít chịu nhường nhịn (không cần xếp hàng gì cả, cố giành phần ưu tiên, chen lấn xô đẩy, giành giật, không biết nhường đường); Lợi mình hại người (lấy gà bị chết dịch mà đem bán, độn đinh vào tôm xuất khẩu…); Nói thách;* Cân thiếu;* Không biết giữ gìn tài sản công; Ý thức kém về bảo vệ môi trường…;*

Thói xấu trong lề lối làm việc: Giải quyết vấn đề theo cảm tính chủ quan; Tham lợi nhỏ quên mất tai họa lớn; Chạy đua chỉ để phục vụ cho một sự kiện; Khúm núm với cấp trên, thượng đội hạ đạp; Làm việc gì cũng trước tạo mối “quan hệ” tốt; Tính cả nể và không công bằng; Thích ganh đua và chạy theo bệnh thành tích; Cái tôi đặt lên trên tập thể; Không dám chịu trách nhiệm những việc mình làm; Tinh thần hợp tác làm việc theo nhóm còn hạn chế; Khi đi công tác, người Việt rất nặng nề chuyện mua bán, quà cáp cho người nhà và đồng nghiệp; Không có thói quen truyền đạt những thông tin cần thiết cho người khác sau khi kết thúc công việc nào đó…

Thói xấu trong học tập, giáo dục-thi cử: Thi không trung thực (quay cóp, sử dụng “phao”, mang tài liệu vào phòng thi…);* Ai cũng muốn cho con vào đại học (coi thường ngành trung cấp/ cao đẳng chuyên môn);* Học gạo nhưng kém thực hành; Ít khi học “đến đầu đến đũa” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản…

Tính cách chung ngăn cản sự tiến bộ (các mặt hạn chế): Hời hợt, không sâu sắc; Tự ti; Thích khen sợ chê; Trọng tình; Bảo thủ, cực đoan; Lãng phí; Không cơ bản, sống theo kiểu “lắp ghép”; Dĩ hòa vi quý; Nhu nhược, sợ quyền lực; Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên thành lý luận; Thiếu tự tin và óc phê phán; Tính rụt rè; Có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động; Không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm); Óc vọng ngoại (sính dùng tiếng/ chữ nước ngoài, dùng hàng hiệu nước ngoài…);* Bệnh hình thức; Thiếu trách nhiệm cá nhân, thừa trách nhiệm tập thể; Thiếu thực tế; Thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng); Không biết mình xấu (có nhiều tật xấu, trong đó tật xấu nhất là… không ý thức được đó là những tật xấu, thấy xấu không sửa)…

Trên đây, qua nhiều nguồn tổng hợp từ các diễn đàn truyền thông, có lẽ chúng ta đã liệt kê chưa hết nhưng gần hết những thói hư tật xấu/ tính xấu/ khuyết tật/ căn bệnh tinh thần… bao gồm các mặt hạn chế đủ loại của người Việt nói chung, hay người Việt thường dân. Tuy nhiên, sẽ là rất thiếu sót nếu chúng ta không tách riêng ra để kể thêm về những thói xấu/ khuyết tật đặc biệt của “người Việt công quyền” gồm hết thảy những cán bộ công nhân viên chức làm việc trong các cơ quan ban ngành đoàn thể thuộc Đảng, Nhà nước, cũng như trong các tổ chức kinh tế tập thể-quốc doanh, các tập đoàn kinh tế quốc doanh và tổng công ty…, vốn chịu sự chi phối cũng của chính các cơ quan ban ngành đoàn thể ấy. Bởi vì thói xấu người Việt nói chung (hay người Việt thường dân) không thể nào không ảnh hưởng hay phản chiếu trực tiếp vào cung cách, tác phong, thái độ làm việc của người Việt công quyền, bao gồm cả các nhà lãnh đạo kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội ở mọi cấp, bởi tất cả họ cũng đều “từ nhân dân mà ra”, chứ chẳng phải ai khác. Như thói gia trưởng chẳng hạn, khởi đầu từ gia đình, sau ảnh hưởng tới tác phong lãnh đạo của người cán bộ…

Kể về thói xấu/ khuyết tật đặc biệt của “người Việt công quyền” thì có lẽ số lượng không nhiều hơn so với của người Việt thường dân, nhưng thói xấu/ khuyết tật mà nằm trong số những kẻ có chức có quyền thì mức tác hại của chúng chắc chắn phải cao hơn. Đó chính là nguyên do tạo nên mọi thứ trì trệ làm cho đất nước phải bị kìm hãm lâu dài trong vòng chậm tiến. Hay nói một cách công bằng và chính xác hơn, cả hai hệ thói xấu/ khuyết tật nêu trên đã cộng hưởng lẫn nhau để phát tác tiêu cực.

Căn bệnh nặng nhất của người Việt công quyền là bệnh xơ cứng giáo điều cả về mặt tư tưởng lẫn hành động, khiến hầu hết những người làm việc trong bộ máy công quyền các cấp đều không dám công khai nói thẳng sự thật hay mở mũi đột phá khi cần thiết cho công việc vì luôn sợ bị chụp mũ về quan điểm lập trường, dẫn tới tình trạng ai cũng nhếch nhác rụt rè, giữ gìn ý tứ, từ đó triệt tiêu tất cả mọi sự thông minh và độc lập sáng tạo của cá nhân.

Phương thức quyết định tập thể dẫn đến tình trạng vô trách nhiệm tập thể. Khi có sự vụ gì hư hỏng, hoặc sai lầm xảy ra thì người ta cứ đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, rốt cuộc không có ai là người đứng ra chịu trách nhiệm cụ thể cả, hoặc chỉ chịu trách nhiệm dưới hình thức “xin lỗi”, rồi xử lý nội bộ cho qua.

Kinh tế tập thể và nguyên tắc “quốc doanh chủ đạo” dẫn đến việc biến tài sản của chung thành “của chùa” mạnh ai nấy xà xẻo, từ đó cũng gây nên tình trạng vô trách nhiệm kiểu “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”, “cha chung không ai khóc”, vốn là gốc nguồn căn bản của tệ nạn vun quén cá nhân biểu hiện dưới hình thức ăn cắp của công, tham ô lãng phí, tham nhũng hối lộ ngày càng tăng và vô phương cứu chữa.

Bộ máy hành chính công quyền để quản lý xã hội hoạt động kém hiệu quả, trong điều kiện việc thực thi luật pháp thiếu minh bạch, đã gây nên quốc nạn tham nhũng gồm cả tham nhũng lớn lẫn tham nhũng vặt. Tham nhũng lớn liên quan số tiền hoặc tài sản trị giá hàng chục/ hàng trăm tỷ đồng, thường do các nhóm quan chức đặc quyền tương đối lớn câu kết với nhau; tham nhũng vặt phổ biến tại mọi tỉnh thành trên cả nước làm cho cả dân tộc hèn đi, được thực hiện dưới hình thức “lót tay”, “phong bì”, “bồi dưỡng”…, chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực hành chính, đặc biệt với cơ chế hành chính “xin-cho”, khi người dân có những việc cần xin phải đụng tới thủ tục, như xin việc làm ở cơ quan nhà nước, “xin” khám-chữa bệnh ở bệnh viện công, xin nhập/ chuyển hộ khẩu, xin giấy khai sinh/ khai tử, xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xin giấy phép xây dựng, xin đi học…

Ngoài những thói xấu/ khuyết tật/ chứng bệnh nặng nêu trên, ở “người Việt công quyền”, còn có nhiều thứ đáng kể khác, rất phổ biến, tuy có phần ít “căn bản” hơn đôi chút nhưng tác hại của chúng hội tụ lại cũng vô cùng to lớn. Có thể kể ra hàng loạt: Thói giữ bí mật (không công khai nói ra cho dân biết, che giấu những sự thật không tốt); Chủ nghĩa lý lịch-thành phần; Bổ nhiệm nhân sự theo quan hệ người thân (họ hàng, bạn bè, “một người làm quan cả họ được nhờ”…); Bệnh sùng bái cá nhân; Óc gia trưởng; Bệnh tham quyền cố vị; Không có văn hóa từ chức; Sợ tới tuổi về hưu; Tha hóa quyền lực (dân tốt khi có chức quyền trở thành quan xấu…); Bệnh kết bè kéo cánh (óc bè phái/ phe đảng); Thói nịnh trên nạt dưới; Phê bình tố cáo, vạch nhau chuyện tủn mủn để tranh giành quyền lực/ quyền lợi (moi móc đời tư để hạ bệ nhau…); Óc cục bộ địa phương; Tư túi/ thu vén cá nhân; Sống giả dối hai mặt (ở cơ quan nói khác, về nhà nói khác…); Sử dụng bằng dỏm bằng giả; Bám sống theo cái nôi cơ quan nhà nước; Bệnh quan liêu hình thức; Thói quan liêu cửa quyền; Trấn áp dân chủ (không tôn trọng quyền tự do ngôn luận, bài trừ “ý kiến khác”…); Đì kẻ có tài hoặc khác với mình về quan điểm; Can thiệp vào hoạt động tư pháp (chỉ đạo xét xử, gởi gắm…); Sử dụng nhiều thủ đoạn đôi khi cả với dân; Bao che, câu kết kiểu phủ huyện bênh nhau; Nghi kỵ, rình rập, vạch lỗi của nhau trong quan hệ công tác; Hô khẩu hiệu suông; Hội họp triền miên; Báo cáo láo; Bệnh thành tích; Xử lý nội bộ (không xử phạt dựa trên luật pháp); Ngụy biện (ưa dùng những cụm từ như “căn bản tốt”, “hoàn thành căn bản”, “nơi này nơi khác vẫn còn không ít khuyết điểm”, “một số không nhỏ”…); Máu xôi thịt; Hám tổ chức những ngày lễ kỷ niệm và ăn theo cuộc lễ; Hám danh hão; Hám bằng khen, huân chương và các loại danh hiệu (thường xuyên tổ chức những cuộc thi đua khen thưởng); Sử dụng công quỹ bừa bãi sai mục đích; Thi hành công vụ/ giải quyết công việc trên bàn nhậu; Nhậu nhẹt trong giờ làm việc; Đãi đằng cấp trên (để mua chuộc tình cảm, vận động sự ủng hộ, giúp đỡ…); Quà cáp cho cấp trên (đặc biệt trong những ngày lễ tết)…

Nguyên nhân và giải pháp cứu vãn

Về nguyên nhân và giải pháp cứu vãn những thói hư tật xấu của người Việt hiện đại, chúng tôi cũng chỉ xin tóm thuật bằng cách ghi lại một số ý kiến đã được phát biểu trên hai diễn đàn liên quan chủ đề này do báo Tiền phong (online) (viết tắt: TPO) và báo Tuổi trẻ (viết tắt TT) tổ chức trong khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4/2014 vừa qua. Chúng tôi tin cách làm này tuy có vẻ đơn giản nhưng lại nhiều khả năng đạt được tính khách quan cao, nhờ thu thập được ý kiến từ nhiều phía của mọi thành phần dân Việt cũng như của vài người ngoại quốc có quá trình sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

1. Về nguyên nhân những thói hư tật xấu, có những ý kiến đáng chú ý như sau:

– Đào Duy Anh khẳng định trong sách Việt Nam văn hóa sử cương (Quan Hải tùng thư, Huế, năm 1938) rằng: “Cái văn hóa của tổ tiên ta đã gây dựng trong hai nghìn năm để sinh trưởng giữa những điều kiện tự nhiên ác liệt ở xứ này, tất phải có sinh khí mạnh mẽ lắm”. Song, ông cũng nhận rõ đấy là “sinh khí mạnh” của nền văn hóa nông nghiệp Việt, với văn minh lúa nước cổ truyền, vốn là “xã hội bế tỏa, đến khi xã hội ấy gặp tình thế bắt phải khai thông thì nó lộ ngay ra hết mọi nhược điểm. Cái bi kịch hiện thời của dân tộc ta là sự xung đột của những giá trị cổ truyền của văn hóa cũ ấy với những điều mới lạ của văn hóa Tây phương. Cuộc xung đột sẽ giải quyết thế nào, đó là một vấn đề quan hệ đến cuộc sinh tử tồn vong của dân tộc ta vậy” (theo Nguyễn Thị Minh Thái, “Tính xấu người Việt: Cần soi gương…”, TT, 8/4/2014). Có thể nói thói hư tật xấu của người Việt Nam ta nó xuất phát từ lối sống, lối làm việc, tập tục văn hóa tích lũy từ bao đời mà hình thành… (TPO). “Cái xấu” mà người Việt hiện đang mắc phải nó rất biện chứng và là hệ quả của một thời gian dài ít hòa nhập với thế giới, ta chỉ thường ca ngợi ta “anh hùng, cần cù, thông minh…” như là khỏa lấp những vấn đề yếu kém vẫn đang tồn tại trong xã hội. “Cái xấu” ở đây không phải sinh ra là đã thế mà nó bị ảnh hưởng của cách giáo dục, từ thực tế cuộc sống, từ những “bài học sinh tồn” mà cha ông ta dặn lại; nó chỉ thuần túy là khả năng chống chọi với thiên nhiên, ngoại xâm, với các thế lực muốn thôn tính ta. Khi ta hội nhập thì cái mặt bằng ngàn năm đó cũng cần được nhìn nhận theo “tiêu chuẩn quốc tế” và điều đó dân Việt ta cũng phải suy nghĩ! (TPO).

– Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn thay đổi, tức vẫn non trẻ. Trong xã hội chưa được thiết lập một tiêu chuẩn về lối sống có tính đạo đức một cách vững vàng (TT, 31/3/2014).

– Do ở trình độ dân trí của mọi người, do trình độ văn hóa chung của toàn xã hội… (TPO). Những thói xấu mà người Việt thể hiện như mọi người đã chỉ ra chỉ là sản phẩm của một nền văn hóa hiện nay. Văn hóa được định hình bởi các giá trị… Vấn nạn đối với người Việt hiện nay là những “giá trị” ngầm rất tệ hại đã và đang là kim chỉ nam cho những hành vi hằng ngày của rất nhiều người… (TT, 12/4/2014).

– Do hiệu quả của hệ thống pháp luật, do kỷ cương phép nước, do cơ chế quản lý xã hội… Hơn nữa, việc coi thường pháp luật và việc chế tài xử phạt không nghiêm cũng góp phần làm trì trệ thêm tình hình… Cơ chế quản lý xã hội (thông qua hệ thống luật pháp chính thống của Nhà nước, các quy định của các cấp chính quyền, đoàn thể) còn những chỗ chưa chặt chẽ (TPO).

– Do khuyết tật của nền giáo dục, do chất lượng thực chất của nền giáo dục phổ thông. Chúng ta đang chú trọng việc “dạy chữ” mà xem nhẹ việc “dạy làm người”. Lòng nhân ái, tính khoan dung, tình yêu thương gia đình, đồng loại, tính cộng đồng… là những bài học sơ đẳng để hoàn thiện nhân cách một con người và nó phải được thường xuyên nuôi dưỡng trong một môi trường xã hội lành mạnh. Đây là điều mà nền giáo dục hiện nay khiếm khuyết (TPO). Sự khủng hoảng của nền giáo dục ở các cấp đã có ảnh hưởng tức thời đến hiện tượng “người Việt xấu xí” đang có chiều hướng gia tăng – một bộ phận trẻ em hư hỏng, bất cần đời đi bụi, thanh niên đua xe, nghiện ma túy rồi phạm pháp v.v… Giáo trình môn đạo đức học trong nhà trường rất thiếu những bài giảng sinh động mang tính thực tiễn đề cập thẳng thắn tới những thói hư tật xấu hay gặp nhất của người Việt trong bối cảnh của hội nhập quốc tế. Chẳng có tiết giảng nào răn dạy các em không nên ngoáy mũi hay nói to nơi công cộng… Và đáng thất vọng hơn là xã hội chưa có chế tài xử phạt những hành vi thiếu văn hóa trên quy mô cả nước (Phạm Gia Minh, Tlđd).

– Điểm xuất phát của chặng đường tự sửa mình gian nan đó phải được bắt đầu từ gia đình – tế bào của xã hội, cụ thể là hình thành và gìn giữ gia phong hay còn gọi là “văn hóa gia đình”. Nhưng cái văn hóa gia đình ấy gắn liền với chữ “lễ” lẽ ra cần được ưu tiên thấm nhuần, để dẫn truyền kiến thức văn hóa, trên thực tế đã bị coi thường, là nguyên nhân gây ra những biểu hiện ứng xử thiếu văn hóa. “Trong thực tế người ta đã nhồi nhét tới mức quá tải những mái đầu còn non nớt bằng bao tiết học chính khóa lẫn học thêm các môn Toán, Lý, Hóa, Văn, v.v… trong khi đó giáo dục thể chất và tinh thần chưa bao giờ được đầu tư đúng mức. Rút cuộc, chúng ta đã tạo ra một nền giáo dục đầy bức xúc và stress, có nguy cơ sản sinh ra những thế hệ công dân tư duy thụ động theo lối mòn, xơ cứng giáo điều, nghèo nàn và ‘cục súc’ trong văn hóa giao tiếp, yếu ớt về thể chất và dị biệt với các bạn đồng lứa trên thế giới” (Phạm Gia Minh, Tlđd).

– “Nhân chi sơ tính bản thiện”, tính xấu là do hoàn cảnh bên ngoài tạo nên: Những đứa trẻ sống giữa những người phê phán thì học thói hay lên án; những đứa trẻ sống trong bầu không khí thù địch thì hay đánh nhau; những đứa trẻ sống trong sự hãi hùng thì học được thói sợ sệt… (TPO).

– Tiền lương của người lao động còn thấp nên không có tác dụng khích lệ tính tốt (như nhân viên phục vụ cửa hàng không biết tươi cười với khách…) (TPO).

– Cách quản lý xã hội lỏng lẻo, bất hợp lý đã vô tình tạo điều kiện cho tính xấu ngày càng bành trướng, tính tốt càng bị chèn ép mất hút. Đầu tiên là một số ít lợi dụng sự lỏng lẻo để lách, rồi họ thu được lợi thay vì bị phạt, vậy là số đông hùa theo, làm theo, hành vi xấu nhanh chóng nhân rộng. Một người không xếp hàng nhưng vẫn được bán vé trước, vào trước, số còn lại sẽ không xếp hàng nữa. Một số ít hay đi trễ nhưng vẫn được chờ đợi, số người đi đúng giờ sẽ rút kinh nghiệm không đúng giờ nữa, làm thành một tập thể trễ nải, như chuyện đi đám cưới. Anh đút lót, mọi sự dễ dàng hơn thì tôi dại gì đi đường chính vòng vèo… Không có sự nghiêm minh, công bằng thì người ta sẽ tìm cách đạt lợi ích bằng hành vi xấu. Lâu dần lan dần thành thói quen, thói xấu của cả cộng đồng (TT, 31/3/2014).

– Bốn nguyên nhân của xấu xí:

1) Di sản đạo đức không kết thành một khối từ quá khứ đến hiện tại. “Một triều đại mới bắt đầu là một sự thay đổi tận gốc rễ, nhiều “nguyên khí quốc gia”, nhiều tư tưởng lớn bị phế bỏ chỉ vì không cùng “nhóm”, có phải vậy mà giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống truyền đến hôm nay chỉ còn là những mảnh ghép rời rạc”;

2) Không trải qua những hình thái lịch sử hình thành nên tính cách cộng đồng… Kỷ luật roi vọt của chiếm hữu nô lệ và kỷ luật đói rét của lao động công nghiệp tư bản buộc các quốc gia – dân tộc phải trở thành một dân tộc có ý thức kỷ luật. Do không trải qua hai hình thái này mà chúng ta không có thói quen tôn trọng và thực thi pháp luật, là những người lề mề, thất tín, hời hợt, đại khái, ngẫu hứng, kém kỷ luật, trung thành thấp… Việt Nam cũng không trải qua một phương thức sản xuất nào trọn vẹn từ đầu đến cuối, do vậy mà các chủ thể xã hội không đạt đến độ chín muồi về đạo đức, tư tưởng và triết học;

3) Không được chuẩn bị cho kinh tế thị trường. Sau gần 20 năm đói khát bởi cấm vận, khủng hoảng kinh tế, cuộc sống khốn khó đến mức làm bất cứ cái gì để tồn tại, khi xã hội chuyển từ nền kinh tế bao cấp (cũng là một trạng thái bất bình thường) sang kinh tế thị trường thì xã hội phải đối mặt với trạng thái phát triển quá đột ngột, không ai từ lãnh đạo đến người dân được chuẩn bị về tâm thế nên rơi ngay vào trạng thái bất bình thường khác. Tăng trưởng GDP lên hai con số thành mục tiêu quan trọng nhất, người dân giẫm đạp lên mọi đạo lý để kiếm tiền. Sự hoang dại của thời đói kém cộng với thứ kinh tế thị trường non yếu đã làm đậm hơn lên những tính cách xù xì, méo mó vốn có, và được bổ sung thêm những cái gớm ghiếc từ bên ngoài tràn vào. Phàm cái gì nôn nóng thì dễ hỏng, bằng chứng cho thấy tiền của nhiều hơn nhưng đạo đức suy thoái, đời sống tinh thần bị chao đảo khủng khiếp. Không ở đâu có chuyện thay vì cứu người bị nạn thì lại lao vào hôi của, nhặt tiền với một tinh thần man dại;

4) Hệ thống quản trị quốc gia chưa phải là tấm gương. Muốn hay không cũng phải nhìn nhận rằng dân tình trong một quốc gia có ra sao thì người đóng vai trò quản lý, dẫn dắt phải chịu trách nhiệm. Có một sự thật là bên cạnh những thành tựu nhất định, bộ máy quản lý nhà nước hoạt động ở một số nơi còn kém hiệu quả, vận hành làm sao mà khoảng cách giàu nghèo ngày một lớn, tham nhũng, quan quyền hưởng lợi trên sự thiệt của dân, oan sai còn nhiều, gây bất bình… Niềm tin đạo đức, công bằng, đạo lý sa sút. Phản ứng xã hội chuyển sang thành những tiêu cực như trộm cắp, tham nhũng vặt, lập băng đảng, bóp cổ khách du lịch, chích hút ma túy… “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, hiển nhiên là như vậy, bởi thiết chế xã hội như khuôn đúc nên con người. Nhưng hình như cái khuôn của chúng ta có vấn đề cho nên nhiều sản phẩm không dài, không tròn mà lại dị dạng (ý kiến của Nguyễn Minh Hòa, TT, 15/4/2014).

2. Về giải pháp cứu vãn những thói hư tật xấu, có những ý kiến tóm tắt như sau:

– Phải có một nền giáo dục tốt, phải giáo dục thế hệ trẻ ngay từ lúc này, mà trước tiên nhà trường và gia đình là những tấm gương… Sửa dần thói xấu vặt từ thế hệ 8X. Đối với người Việt Nam ta, người lớn đã sống theo quán tính rồi, sửa những thói xấu vặt như chúng ta thường nói một cách hiệu quả là khó… Nhưng nếu nhà trường có môn học làm người, dạy các em từ lời ăn tiếng nói, dáng đi, tác phong ăn uống, tiếp bạn, chung sức học tập và làm việc, biết ganh đua nhau để tiến lên, tôn vinh những thành tích thực sự, ai, nhóm nào cũng có thể nổi tiếng đúng nghĩa… thì có lẽ hiệu quả hơn… Vấn đề là ở hệ thống chương trình giáo dục (TPO). Nhà trường luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục ý thức cho dân chúng… Người nước ngoài cũng không hơn gì ta cả, chẳng qua họ được giáo dục tốt, từ trong nhà trường ra tới ngoài xã hội… Dù có nói gì đi nữa, nếu không có sự cải cách thì khó hy vọng có một thay đổi lớn ở ý thức xã hội trong những năm tới (TT, 12/4/2014). Trong cải cách giáo dục, nên chăng chúng ta hãy có hẳn một bài lên án nạn “ăn cắp vặt” của người Việt. Đồng thời đưa ra bài học đạo đức “không nên ăn cắp vặt”, “không nên tham vặt”… Hãy dạy một cách thẳng thắn, nêu đúng tội, dẫn chứng đúng chuyện để học sinh lấy đó làm bài học. Đừng đưa ra những lý luận, những học thuyết hay danh từ cao siêu… Một khi tính tham vặt không tồn tại sẽ không còn tham của công, tham nhũng và những cái tham khác… (TT, 13/4/2014).

– Điểm xuất phát của chặng đường tự sửa mình gian nan đó phải được bắt đầu từ gia đình – tế bào của xã hội, cụ thể là hình thành và gìn giữ gia phong hay còn gọi là văn hóa gia đình (Phạm Gia Minh, Tlđd).

– Nên chủ động kết hợp với các phương tiện thông tin đại chúng khác, kết hợp với các nhà nghiên cứu văn hóa xã hội, các đoàn thể quần chúng và kết hợp với đông đảo độc giả xa gần trong và ngoài nước để phát động một phong trào sâu rộng bài trừ thói hư tật xấu của người Việt chúng ta (TPO).

– Nên khuyến khích mọi người sưu tầm thơ, ca dao, tục ngữ nói về thói hư tất xấu, về tệ nạn lãng phí, tham nhũng. Đó cũng là cách thu hút mọi người quan tâm đọc, góp ý kiến và giải pháp (TPO).

– Xử phạt để răn đe, cảnh cáo hành vi phạm lỗi… (TPO). Tuyên truyền, giáo dục là cần thiết nhưng thiết nghĩ cũng cần có biện pháp xử lý khi có người cố ý coi thường các quy tắc chung (TT, 11/4/2014).

– Cách trước mắt để loại bỏ thói hư tật xấu tạm thời, đó là: – Làm gương cho người khác từ chính mình từ việc nhỏ nhất. – Hãy có một lòng tin vào thế hệ trẻ, vào tương lai ngày mai sẽ khác (TPO).

Tạm kết

Qua sự khảo sát tìm hiểu tương đối toàn diện vấn đề thói hư tật xấu người Việt như trên, bao gồm cả việc phân tích nguyên nhân và đề nghị giải pháp khắc phục, chúng tôi xin phép được đưa ra một số nhận xét riêng có tính chung nhất như sau để thay cho lời tạm kết:

– Không phải người Việt nào cũng có đủ những thói hư tật xấu như đã được nêu ra trong các phần trên, mà con người có sự khác nhau tùy theo tư chất bẩm sinh và điều kiện hấp thụ văn hóa (gia đình, học đường, xã hội). Đối với không ít người chú trọng việc rèn luyện bản thân, thói hư tật xấu sẽ ngày càng ít đi. Một số thói hư tật xấu trên thực tế cũng là khuyết tật chung của loài người, đâu đâu cũng có, ít hoặc nhiều. Vì thế chúng tôi rất chia sẻ với ý kiến của một tác giả tham gia diễn đàn trên TPO: “Người Việt có tính xấu chung của thế giới, có tính tốt rất riêng và rất đặc thù. Người Việt ở đâu cũng vậy, vẫn giữ những nét xấu riêng của mình, để đi đến đâu họ cũng bị nhận ra rằng: Đó chính là người Việt! Nhưng người Việt không bao giờ chỉ có tính xấu, người Việt cũng có rất nhiều cái tốt như mọi người đã biết! Tính xấu và tính tốt của người Việt hình như là bằng nhau”.

Một số ý kiến táo bạo như của Bá Dương trong Người Trung Quốc xấu xí, hoặc những lời phê phán mạnh mẽ của một số trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX đối với thói hư tật xấu người Việt, đôi khi cũng có chỗ khó tránh khỏi rơi vào cực đoan mà chúng ta ngày nay cần phải thận trọng xem xét. Việc trung thực vạch ra những thói xấu/ khuyết tật nhiều như vậy là cần thiết để cầu tiến bộ, song cũng cần khẳng định những tính cách/ đức tính tốt cơ bản của người dân Việt, miễn đừng tự hào quá đáng, bởi nếu không, sẽ rất dễ rơi vào hướng ngược lại là tình trạng tự ti mặc cảm, bất lợi cho sự phát triển mọi mặt của dân tộc trong tương lai.

– Một số tính cách được ghi nhận bị cho là xấu/ tiêu cực nhưng đôi khi không hẳn là tính xấu/ tiêu cực thật sự (như: lười biếng, không thiết việc đời, thích an nhàn, dĩ hòa vi quý, trung dung, an phận thủ thường…). Có trường hợp bị coi là xấu chỉ vì nó hạn chế sự tiến bộ theo kiểu văn minh vật chất phương Tây, nhưng lối sống cực đoan theo các nước tiên tiến phương Tây cũng gặp phải nhiều vấn nạn và chưa hẳn đã là mô hình phát triển tuyệt vời đáng để cho mọi quốc gia khác trên thế giới noi theo. Một nước Nhật noi gương phương Tây thành công, ai cũng khâm phục, giàu có nhờ khả năng phát triển thần tốc của khoa học-kỹ thuật và kinh tế với thu nhập đầu người tính bằng tiền rất cao, tính cách của người Nhật cũng có những mặt thay đổi tích cực phù hợp theo hướng kinh tế thị trường, nhưng trong đó con người luôn phải tất bật căng thẳng trong cuộc sống liên tục bị dồn nén, bệnh tật cũng nhiều theo do ăn uống quá thừa mứa, để xảy ra nhiều trục trặc trong đời sống tâm lý khiến hạnh phúc bị giới hạn…, nếu xét kỹ, chưa chắc xứng đáng là mô hình gương mẫu của nền văn minh hiện đại. Hình ảnh ngược lại với một số cường quốc đang ngông cuồng chạy theo nền văn minh vật chất là các nước Lào, Campuchia, Myanmar… Trước đây, theo truyền thống, nhờ nền kinh tế Phật giáo (Buddhist Economy), họ có được cuộc sống tương đối bình ổn, nhưng bây giờ thì đã khác rồi, và ngày càng giống với Trung Quốc, Việt Nam… hơn do bị cuốn hút vào trào lưu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Họ vì thế đang phải đứng trước những thách thức thật sự đáng lo ngại trong việc phải đối đầu với hiểm họa môi trường từ các dự án xây dựng gây ra, kèm theo là hiện tượng tiêu cực tham nhũng, hố ngăn cách giàu nghèo ngày một gia tăng…

Một xã hội “tiêu cực” có nhiều người làm thơ, uống rượu, đi tu…, coi thường của cải vật chất, chắc chắn chậm phát triển nhưng cũng sẽ ít có sự giành giật, cướp bóc, và nhất là chiến tranh. Một xã hội ít dùng luật pháp theo kiểu “dĩ hòa vi quý” cũng sẽ giảm bớt được nạn kiện tụng… Nói chung, trong lối sống tiêu cực vẫn có mặt tích cực, và ngược lại. Vì vậy người Việt Nam hiện nay tuy vẫn phải tự điều chỉnh tính cách của mình theo hướng tích cực để phát triển kinh tế-xã hội nhưng chỉ nên tham khảo học hỏi theo lối sống văn minh để xây dựng riêng cho đất nước dân tộc mình cuộc sống ấm no hạnh phúc trong sự hài hòa vừa phải chứ không nên nhất nhất đều rập khuôn chạy theo các nước tiền tiến Âu Mỹ.

– Thói hư tật xấu của người Việt thường dân và người Việt công quyền đã thật sự tăng lên khá nhiều trong khoảng nửa thế kỷ nay. Đó là hậu quả của môi trường văn hóa đạo đức xuống cấp ngày càng trầm trọng trong một bối cảnh chuyển biến hết sức đặc thù của lịch sử. Về mức độ trầm trọng, “mật độ lỗi văn hóa trong ứng xử của người Việt hôm nay đang thành vấn nạn, bởi sự dày đặc đáng lo ngại của nó đang được thông tin hằng ngày trên báo chí truyền thông” (Nguyễn Thị Minh Thái, Tlđd).

Một độc giả tham dự diễn đàn “Người Việt-Phẩm chất và thói hư tật xấu” trên TPO thừa nhận “Chúng ta cứ ca ngợi văn hóa của người Hà Nội nhưng thực tế văn hóa đó không còn nữa rồi”. Ý nói người Hà Nội đã không còn thanh lịch so với trước đây khoảng 50-60 năm. Trong bài viết “Chỉ tên những tật xấu của người Việt thời nay” (Tuanvietnam.net, Tlđd), tác giả Phạm Gia Minh, người gốc Bắc, cũng đưa ra nhận định: “Chắc nhiều người còn nhớ thời kỳ sau năm 1975, ai đi Nam về cũng có chung một nhận định: trẻ con trong đó hầu như rất ít nói bậy và viết những điều tục tĩu lên tường nơi công cộng, đi đâu về nhà thì lễ phép cung kính chắp hai tay thưa gửi người bề trên. Đặc biệt, chẳng may ra đường có bị đụng xe thì người ta cũng không mấy khi nổi khùng cãi vã dẫn tới xô xát như bây giờ. Trẻ em ở vùng bà con theo Thiên Chúa  giáo cũng có những nét sinh hoạt  như vậy,  và nhiều bậc cha chú cho tới nay vẫn còn giữ những hoài niệm đẹp về người Tràng An thuở trước thanh lịch, tế nhị mà rất đỗi phong lưu”.

Những sự thay đổi theo hướng ác hóa (xấu đi) như vừa nêu trên cho thấy xã hội đã và đang “có vấn đề”. Mà vấn đề chỉ là ở chỗ các loại thói hư tật xấu biểu hiện đa dạng đã tăng mạnh trong một không gian-môi trường xã hội hoặc bối cảnh lịch sử cụ thể nhất định nào đó. Trong trường hợp này, thói hư tật xấu có những nguồn cội phát triển rõ ràng từ sự suy thoái chung của cả một thời kỳ lịch sử-xã hội trong đó các yếu tố tiêu cực tác động làm tha hóa con người có thể được tìm thấy nhiều hơn so với những thời kỳ khác trước đó…

Ở Liên Xô trước đây, sau Cách mạng tháng 10 (1917), nhà văn Macxim Gorki đã từng nêu lên nhận xét rằng, cuộc cách mạng đã có tác dụng tích cực lật đổ được chế độ phong kiến Sa hoàng nhưng với sự nắm quyền và quản lý xã hội của giai cấp vô sản ít học, nước Nga sẽ phải đối đầu với một tình trạng còn nguy hiểm hơn, đó là “lâm nguy văn hóa”.

Bây giờ, nếu xem xét nguyên nhân các thói hư tật xấu người Việt từ hiệu quả của một nền giáo dục bất toàn, đầy khiếm khuyết, như ai cũng thừa nhận, thì công bằng mà nói, nền giáo dục miền Bắc nhờ xây dựng tốt tinh thần đấu tranh giai cấp và căm thù đế quốc nên đã huy động được sức mạnh của quần chúng tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, nhưng với sự trả giá rất đắt: do phải tập trung vào những mục tiêu và lý tưởng chính trị to tát, nền giáo dục miền Bắc đã có thời gian dài khá lơ là với việc giáo dục những giá trị văn hóa-đạo đức truyền thống của dân tộc, thậm chí còn đi tới chỗ cực đoan chống lại các tôn giáo hoặc ý thức hệ đối lập, tiến hành phê phán nặng nề lối sống bị cho là tàn dư của chủ nghĩa thực dân phong kiến, cực lực đề cao giai cấp vô sản và coi sự làm giàu là có tội… Một số khẩu hiệu được giương cao như “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”… xem ra có vẻ lý tưởng hấp dẫn nhưng lại khó theo, thực tế chỉ là ảo tưởng vì bất cận nhân tình, rốt cuộc, trong điều kiện của một nền kinh tế tập thể quan liêu bao cấp, một thứ chủ nghĩa cá nhân cực đoan và biến tướng đã phát tác mạnh mẽ hơn bao giờ hết, từ đó dồn dập sinh ra những thói hư tật xấu vốn chỉ tồn tại ít hơn trong những thời kỳ lịch sử trước đó. Miền Nam trái lại, tiếp tục chịu ảnh hưởng của chế độ thực dân phong kiến, quan điểm giáo dục ít bị chính trị hóa hơn nhưng lại thiên về cổ điển nếu không muốn nói vẫn còn khá nặng màu sắc phong kiến của giai đoạn những năm 40 trước Cách mạng tháng Tám, còn về các khoa học nhân văn (quốc văn, đức đục, công dân giáo dục…) thì căn bản vẫn dạy dỗ từ khuôn phép lễ nghĩa xưa phát huy lên, chú trọng rèn luyện nhiều thứ tình cảm đan xen nhau (cá nhân, gia đình, tổ quốc, nhân loại), trông giống như một cây đàn muôn điệu… Đây cũng là lý do quan trọng giải thích sự khác biệt về nếp sống/ lối sống giữa người dân Việt ở hai miền Nam, Bắc.

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, đem lại niềm phấn khởi chung cho cả dân tộc từng chịu đựng cuộc chiến tranh đau khổ kéo dài 30 năm. Một luồng di dân mới ồ ạt từ Bắc vào Nam như là sự tiếp tục của quá trình và quy luật Nam tiến, đã tạo điều kiện cho Nam Bắc sum họp một nhà, chung tay xây dựng lại đất nước, trong đó khách quan có sự hòa trộn và tham khảo lẫn nhau những đức tính tốt đặc trưng vùng miền giữa người dân hai miền Nam, Bắc, nhưng rồi những thói hư tật xấu của mỗi bên vì thế cũng nhân cơ hội mà hòa trộn xen vào, tạo nên tình huống không mấy gì lạc quan tốt đẹp như chúng ta đã từng chứng kiến trong suốt vài chục năm gần đây. Trong điều kiện phát triển hòa bình với nền kinh tế từ quan liêu bao cấp chuyển sang hướng thị trường, khía cạnh cá nhân chủ nghĩa cố hữu của con người lâu nay bị dồn nén trong thời kỳ chiến tranh được cơ hội “bung ra”, một bộ phận không nhỏ trong xã hội trở nên thực dụng thô thiển, nhắm mắt chạy theo tiền và quyền, triệt tiêu mọi thứ đạo đức, lý tưởng.

Trong hệ giải pháp được đề nghị trên kia để khắc phục thói hư tật xấu, giải pháp chỉnh đốn nền giáo dục và củng cố luật pháp xem ra có tầm quan trọng hơn cả. Ngoài ra, còn có vai trò tích cực của các phương tiện truyền thông qua việc góp phần phê phán, như từ trước tới nay vẫn làm, để đẩy lùi những thói hư tật xấu ra khỏi đời sống hiện đại của người Việt, ngành báo chí-xuất bản vì thế cũng tỏ ra hết sức quan trọng. Nhưng trong điều kiện “chính trị thống soái”, “kinh tế quyết định”, mọi nỗ lực cải cách trong nhiều năm nay đều chỉ được tiến hành một cách nửa vời, không đưa đến những hiệu quả thực tế như mong muốn. Thí dụ nói về bệnh giả dối đang rất phổ biến trong xã hội hiện nay, có ý kiến chính đáng cho rằng, muốn chữa được, “cần phải có một hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh… đòi hỏi sự trung thực và can đảm của hệ thống chính trị” (xem Tuổi trẻ, 10/10/2012).

Cho nên có thể nói, cải cách chính trị cũng là tiền đề của cải cách văn hóa, giáo dục, lối sống, cũng như của mọi công cuộc cải cách khác. Không có cái nền đó thì bao nhiêu tiếng nói, đề án của giới nhân sĩ trí thức văn hóa giáo dục rốt cuộc cũng chỉ trở thành những tiếng kêu gào vô vọng!

Người dân Việt Nam lâu nay đã quen sống ì với những thói xấu/ khuyết tật của mình, không chịu “cải hóa tự tân” vì thiếu cả lòng tin lẫn động lực thúc đẩy đổi mới, cho nên vấn đề bức thiết cốt lõi hiện nay vẫn là cần tiến hành sớm việc cải cách thể chế, như một cách để phà vào xã hội một luồng không khí mới tươi mát, có tác dụng kích hoạt mạnh mẽ, tương tự như phong trào Tân văn hóa ở Trung Quốc hay Duy tân ở Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX vậy.

Công cuộc cải tạo văn hóa thông qua quá trình giáo dục công dân là một quá trình của lượng biến thành chất, đòi hỏi thời gian lâu dài. Nhưng để có được bước đột phá, nhằm thúc đẩy nhanh các quá trình thực hiện, điều kiện tiên quyết vẫn là phải can đảm thừa nhận các thói xấu/ khuyết tật, và trung thực chỉ ra những sự thật nào là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh ra chúng, không chút úy kỵ.

Về cải cách chính trị và kinh tế, điều kiện cơ bản để xây dựng đạo đức-văn hóa-giáo dục, chúng ta đã bắt đầu thấy được vài tín hiệu lạc quan hơn rồi. Đặc biệt, với bản thông điệp tuyên bố vào đầu năm nay, người đứng đầu Chính phủ đã bàn trúng vấn đề cơ bản nhất: phải cải cách thể chế, mở rộng mạnh mẽ dân quyền và dân chủ.

15/5/2014 – T V C. Thành phố Hồ Chí Minh

TÓM TẮT

Bài viết tổng thuật chi tiết thói hư tật xấu của người Việt được ghi nhận qua sách báo từ trước đến nay, bao gồm cả việc phân tích nguyên nhân và đề nghị giải pháp cứu vãn. Bên cạnh đó, tác phẩm Người Trung Quốc xấu xí của nhà văn-nhà báo Trung Quốc Bá Dương cũng được tóm thuật lại để giúp người đọc tham khảo, đối chiếu với trường hợp Việt Nam. Theo tác giả, công cuộc cải tạo văn hóa đòi hỏi thời gian rất lâu dài, nhưng để có được bước đột phá, nhằm thúc đẩy nhanh các quá trình thực hiện, điều kiện tiên quyết vẫn là phải can đảm thừa nhận các thói xấu/ khuyết tật của người Việt, và trung thực chỉ ra những sự thật nào là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh ra chúng. Trong các giải pháp nhằm khắc phục thói hư tật xấu của người Việt, giải pháp chỉnh đốn nền giáo dục và củng cố luật pháp là có tầm quan trọng hơn cả. Tuy nhiên, cải cách chính trị mới là tiền đề của cải cách văn hóa, giáo dục, lối sống, cũng như mọi công cuộc cải cách khác. Vì vậy, vấn đề bức thiết cốt lõi hiện nay vẫn là cần tiến hành sớm việc cải cách thể chế, mở rộng dân quyền và dân chủ, như một cách để phả vào xã hội một luồng sinh khí mới, có tác dụng kích hoạt mạnh mẽ, tương tự như phong trào Duy tân ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.

ABSTRACT

GENERAL COMMENTS ON  BAD HABITS OF THE VIETNAMESE PEOPLE

The article generally describes bad habits of the Vietnamese people recorded in books and newspapers, including the analysis of causes and proposed solutions to overcome. In addition, the book “The Ugly Chinaman” by Bo Yang, a Taiwan writer and journalist, is summarized to help readers compare to the case of Vietnam. According to the author, cultural reform requires a long-term period, and in obtaining breakthrough in order to foster the process of changing, the prerequisite conditions must be the daring to admit bad habits/ defects of the Vietnamese people and point out basic reasons causing these habits. Among solutions to surmount bad habits of the Vietnamese people, the most importance is to set right the education and reinforce the law. However,  political reform itself is the premise of cultural and educational reform, as well as other reforms. Thus, the urgent matter is to carry out institutional reform, and expand civil rights and democracy as a way to give the society a new lease of life with great efforts, similar to the “Renovation” movement in Vietnam in the early 20th century.

Source: Ici Radio-Canada, Édition Montréal, 20.01.2014

Source: Ici Radio-Canada, Édition Montréal, 20.01.2014