Một chuyến đi ở Rajasthan

Đi xa là để học hỏi ở người, ở thiên nhiên, ở thế giới, nên mỗi lần được đi xa là mỗi lần mở được tầm mắt của mình, của tâm hồn mình, mỗi hành trình là một hạnh phúc, một bài học. Bài viết của Nguyễn Phụng đưa tôi đến một khoảng trời mà có lẽ không khi nào tôi có dịp đặt chân đến. MTT

Một chuyến đi ở Rajasthan

© Nguyễn Phụng, Paris

NP_Raj_1Tháng 4-2010, tôi và nhà tôi chuẩn bị hành lý đi Ấn Độ để thăm xứ Rajasthan, nơi có nhiều lâu đài cổ kính mà khách du lịch nước ngoài thường khen là đẹp. Bất thần, trước hai ngày, núi lửa Eyjafjallajokull của xứ Islande bắt đầu phun khói và tro bụi làm mọi giao thông hàng không của châu Âu bị tê liệt hơn 10 ngày. Chuyến đi của chúng tôi đành phải huỷ bỏ. Cũng may là hãng hàng không India chịu hoàn tiền lại, tôi chỉ mất tiền xin chiếu khán của Ấn Độ. Nhưng trong cái rủi cũng có cái may là sau đó, tôi thấy trên truyền hình Pháp nhiều du khách viếng thăm Ấn Độ trước khi núi lửa phun bị mắc kẹt bên đó, cạn tiền, nhờ sứ quán Pháp giúp đỡ trong khi chờ đợi hồi hương. Lại nữa, Ấn Độ vào tháng tư thời tiết nóng với nhiệt độ tăng trên 35 độ °C.

Rút kinh nghiệm năm trước, tôi đi lần này trong đầu tháng giêng 2011 với hy vọng thời tiết sẽ dễ chịu hơn. Lại nữa, tháng giêng năm nay ở Pháp trời trở lạnh khác thường, dự tính của tôi là từ Ấn Độ sau khi tham quan ba tuần sẽ về Việt Nam ăn Tết luôn, vừa tránh lạnh, vừa đi du lịch thì còn gì tuyệt bằng !

Một bất ngờ khác là vừa đặt chân tới phi trường quốc tế New Delhi, trời lạnh cóng với 5°C bên ngoài mà khách sạn lại không có lò sưởi! Do không chuẩn bị đồ ấm nên tôi bị lạnh. Tưởng là tránh lạnh ở Âu Châu lại bị lạnh ở Á Châu, thật là «tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa » như dân gian thường nói. Nhưng sau đó khi chúng tôi đi về vùng Rajasthan ở phía tây nam của New Delhi thì thời tiết trở nên lý tưởng với nhiệt độ 18-20°C.

Phi trường quốc tế New Delhi còn mới toanh, những tấm thảm mới còn nguyên vẹn. Trước đó vài tháng, Ấn Độ đứng ra tổ chức vận hội Commonwealth mà báo chí chỉ trích thậm tệ vì đến gần ngày khai trương mà các công trình xây dựng vẫn chưa xong.

Đây là lần thứ hai tôi đi Ấn Độ, lần trước cách đây 13 năm (1997) trên đường đi Nepal và Tây Tạng, tôi có ghé qua vài ngày ở New Delhi và Agra, nơi có nhiều lâu đài tráng lệ mà khách du lịch nước ngoài không thể bỏ qua.

Vài hàng giới thiệu về Ấn Độ và xứ Rajasthan

Sau khi tuyên bố độc lập ngày 15.8.1947, Ấn Độ trở thành một quốc gia Liên Bang bao gồm 28 xứ (état), 6 lãnh thổ (territoire) và lãnh thổ đặc biệt của thủ đô New Delhi. Ấn Độ giáp giới với Trung Quốc, Nepal, Bhoutan, Bangladesh, Miến Điện và Pakistan. Ấn Độ có một diện tích lối 3,3 triệu km2 và một dân số 1,21 tỷ người theo thống kê năm 2010.

Với dân số này, Ấn Độ đứng hàng thứ 2 trên thế giới chỉ thua Trung Quốc với 1,341 tỷ dân nhưng diện tích chỉ bằng một phần ba của Trung Quốc (9,6 triệu km2). Người ta dự đoán dân số Ấn Độ sẽ vượt dân số Trung Quốc trong vài thập niên tới. Đó cũng là một thử thách lớn cho giới cầm quyền Ấn Độ.

Thu nhập đầu người Ấn Độ trong năm 2009 là 1.200 US-dollars, tương đương với thu nhập đầu người của Việt Nam nhưng chỉ bằng 1/3 thu nhập đầu người của Trung Quốc (3.800 USD).

Nền văn minh Ấn Độ là một trong những văn minh lâu đời trên thế giới cùng với các nền văn minh lâu đời khác như Trung Quốc, Ai Cập vv..

Triều đại cuối cùng thống trị Ấn Độ là triều đại Moghol/Mughal gốc hồi giáo vào đầu thế kỷ 16. Triều đại này kéo dài hơn 3 thế kỷ cho đến 1857, trước sự thống trị của nước Anh kéo dài 90 năm, từ đó cho đến năm 1947. Triều đại Moghol chia ra hai thời kỳ : đại moghol và « tiểu » moghol. Đại moghol có 6 hoàng đế trị vì là: Babur (1526-1530), Humayun (1530-1556), Akbar (1656-1605), Jahangir (1605-1627), Shah Jahan (1627-1658), Aurangzeb (1658-1707). Trong 181 năm trị vì, sáu vị hoàng đế này đã để lại cho Ấn Độ nhiều công trình xây dựng lớn trong khi 14 hoàng đế kế tiếp ở vào thời kỳ suy thoái chỉ thừa hưởng sự nghiệp của cha ông. Triều đại Moghol có điểm tương đồng với triều đại nhà Thanh của Trung Quốc, người moghol gốc Hồi từ xa đến chiếm Ấn Độ, cũng như nhà Thanh thuộc sắc tộc thiểu số Mãn châu đã đánh bại nhà Minh thuộc gốc Hán, triều đại Moghol cũng như triều đại Mãn Thanh đều là những triều đại phong kiến cuối cùng của hai nước Ấn Độ và Trung Quốc.

Rajasthan

NP_Raj_2

Red Fort Agra, một di sản thế giới. Ảnh: Nguyễn Phụng

Rajasthan là một trong 28 xứ của Liên Bang và được gọi là đất nước của vua chúa trong thời phong kiến (raja là vua). Do đó, xứ Rajasthan còn giữ được nhiều lâu đài nguy nga tráng lệ. Diện tích của Rajasthan có 342.000 km2 chiếm 1/10 diện tích của toàn xứ (hơn diện tích của Việt Nam đôi chút). Dân số có 56 triệu người chiếm 5,5% của dân số toàn quốc (2008). Đa số dân chúng theo đạo hindu với gần 90%, số còn lại theo đạo Hồi (8,5%), đạo Sikh vv.. Rajasthan rất phong phú về truyền thống. Dân chúng đa số còn sống nghề nông và du lịch, công nghiệp chưa phát triển mạnh. Thủ đô của Rajasthan là Jaipur, các thành phố lớn khác là Ajmer, Bharatpur, Bikaner, Jodhpur, Kota, Udaipur, Jaisalmer, Jhalawar, Chittaurgarh, Bundi, Banswara, Alwar.

Lăng mộ của maharaja ở ngoại ô Jaisalmer. Photo Nguyễn Phụng

Lăng mộ của maharaja ở ngoại ô Jaisalmer. Photo Nguyễn Phụng

Theo lịch sử cận đại của Rajasthan mỗi vùng đều có một tiểu vương thống trị như một nước riêng. Khi Babur (1480-1530), một hậu duệ của Tamerlan và người sáng lập triều đại Moghol chiếm xứ Rajasthan năm 1527, ông khôn khéo làm liên minh với các tiểu vương người Rajput. Họ còn được Babur phong chức maharaja (đại vương) và được hưởng nhiều đặc quyền. Họ cho xây cất nhiều lâu đài với lối kiến trúc moghol mà ngày nay vẫn còn. Nhưng khi hoàng đế Aurangzeb (1618-1707) cho phá huỷ các đền thờ hindu và sikh, các maharaja người Rajput đứng lên chống lại. Phải nói vị hoàng đế này khá « đặc biệt ». Ông là người con thứ ba của hoàng đế Shah Jahan (1592-1666). Là người hồi giáo cuồng tín, ông soán ngôi cha năm 1658 và bỏ tù cha ở lâu đài Red Fort Agra mà người ta còn thấy lăng mộ ở đó. Ngoài ra, ông còn cho giết hại hai người anh và cả con cái của ông ta. Dưới thời trị vì của ông ta, chinh chiến triền miên làm dân tình vô cùng khổ cực. Ông là hoàng đế cuối cùng của triều đại « đại moghol ». Các hoàng đế nối tiếp chỉ gọi là triều đại « tiểu moghol » cho đến 1857.

Đầu thế kỷ 18, vương quốc Marathes bên cạnh muốn chiếm Rajasthan, các maharaja của Rajasthan làm liên minh với người Anh và phục tùng họ. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Ấn Độ, các maharaja đứng về phía người Anh. Chia để trị là đặc tính của mọi đế quốc. Nhờ đó mà các maharaja còn tiếp tục hưởng nhiều đặc quyền, giữ chức tước cũ và trở thành thành viên của Viện hoàng tộc.

Khi Ấn Độ trở thành độc lập, họ được chính phủ cho phép giữ nguyên chức tước, lâu đài như trước. Phải đợi đến cuối năm 1971, bà thủ tướng Indira Gandhi mới bãi bỏ các đặc quyền của họ. Để tiếp tục sống, ho xoay qua làm chính trị hoặc làm thương mại. Nhiều lâu đài biến thành viện bảo tàng hay khách sạn loại sang nhất trên thế giới. Ngày nay, người ta còn thấy ở nhiều nơi, các maharaja vẫn còn cư trú một phần trong lâu đài, phần khác biến thành khách sạn. Các con cái của họ được đi du học nước ngoài ở các trường lớn và trở thành những đại gia của Ấn Độ.

Đẳng cấp (caste)

Khi nói về Ấn Độ mà không nói chế độ đẳng cấp (varna) là một thiếu sót vì chế độ này làm trì trệ sự phát triển nhanh của Ấn Độ. Chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ có 4 cấp sau :

1-cấp Brahmane (Bà La môn) bao gồm giới tu sĩ, người có học thức cao và các vị lãnh đạo tôn giáo tự cho mình sinh từ lỗ miệng. Họ được quần chúng tôn sùng như những lãnh đạo tinh thần và sống sung sướng nhất,

2-cấp Kshatriya bao gồm vua chúa quý phái tự cho mình sinh từ cánh tay (giới chiến sĩ/guerriers cũng ở trong cấp này). Họ là những người nắm giữ quyền hành thống trị dân chúng,

3-cấp Vaisya bao gồm giới thương buôn, nông dân và người làm nghề thủ công tự cho mình sinh từ bắp vế,

4-cấp Sudra bao gồm người nô lệ phục dịch tự cho mình sinh từ gót chân.

Người cùng khổ (paria) thuộc hạng người bị khinh bỉ sống ngoài lề xã hội (les intouchables) không thuộc đẳng cấp nào. Theo thống kê, cấp Brahmane chiếm 20% dân số, cấp Sudra 42%, người cùng khổ 20%.

Theo sự phân chia đẳng cấp này, giới thượng lưu brahmane chỉ hành nghề ở các sinh hoạt  «thuần tuý»  trong khi các đẳng cấp thấp khác phải hành nghề ở lãnh vực «không thuần tuý», chẳng hạn như khuân vác những đồ dơ bẩn, thú vật chết …

Khái niệm thuần tuý hay không thuần tuý có nguồn gốc đạo giáo, nó cấm cản người thuộc đẳng cấp thấp thăng tiến ở địa vị cao sang trong nhiều thế kỷ. Chẳng hạn, giới thượng lưu brahmane chỉ ăn do người thuộc giới brahmane nấu (giới brahmane cũng có nhiều đẳng cấp). Cách đây vài năm, khi đi du lịch ở Yên Bái, tôi thấy một đoàn thương gia người Ấn có mang theo một ông đầu bếp ở khách sạn. Lúc đó, tôi nghĩ họ muốn « làm sang », bây giờ tôi mới hiểu lý do. Rồi một hôm đi ngang qua một người làm thợ thủ công, tôi hỏi người hướng dẫn khách du lịch gốc Rajput, ông có thể làm nghề này không ? Ông trả lời «thà chết đói» chứ  không làm nghề hạ cấp! Hai thí dụ nói trên chứng tỏ Ấn Độ còn cần phải làm một cuộc cách mạng văn hoá và tinh thần.

Ngày nay, luật pháp ngăn cấm sự phân chia đẳng cấp này nhưng sự kiện đó vẫn còn thịnh hành trong đời sống, nhất là ở vùng thôn quê. Điều đáng chú ý là bà tổng thống hiện nay của Ấn Độ lần đầu tiên trong lịch sử thuộc giới người cùng khổ.

Hành trình đi Rajasthan

Pháo đài Johpur. Photo: Nguyễn Phụng

Pháo đài Johpur. Photo: Nguyễn Phụng

Trong hai ngày đầu và hai ngày cuối ở thủ đô New Delhi, chúng tôi đi viếng thăm lại và xem thêm một vài thắng cảnh lớn như Red Fort, một lâu đài xây cất dưới thời hoàng đế Shah Jahan, đài kỷ niệm của bà Indira Gandhi, lăng mộ của hoàng đế Humayun (con của Babur), Qutb Minar, một tháp hồi giáo xây năm 1198, viện bảo tàng quốc gia, thánh điện Jama, chùa Lotus trắng của người bahai vv.. Đó là những thắng cảnh lớn mà mọi du khách lần đầu tiên đến Ấn Độ phải xem. Tôi thích nhất là lăng mộ của hoàng đế Humayun và tháp hồi Qutb. Lăng mộ Humayun được Unesco công nhận là di sản thế giới năm 1993. Cách kiến trúc kết hợp hài hoà của phong cách hồi giáo và Ấn Độ dù đơn giản nhưng không kém phần tráng lệ tinh xảo. Chung quanh lăng là những hồ rộng mênh mông. Tháp hồi Qutb cao 72,5 m là tháp cao nhất của Ấn Độ được xây bằng đá sành (grès) đỏ và cũng là một tháp Hồi đầu tiên được xây cất cất trên đất Ấn.

Thủ đô New Delhi có một vài thay đổi nhưng đối với tôi những thay đổi này không nhiều sau 13 năm. Thay đổi lớn có lẽ là tàu điện (métro) trên không mà trước đây không có. Tôi định đi thử nhưng cuối cùng phải thối lui vì quá đông người mà toa xe lại quá ít. So với métro của Thượng Hải của Trung Quốc thì quả là một trời một vực. Métro Thượng Hải rộng rãi, có máy điều hoà, mà theo tôi, là hiện đại nhất trên thế giới. Quảng trường Connaugth, một khu sang của thủ đô tương đối sạch sẽ hơn trước, bớt người hành khất nhưng vẫn còn dây điện chòng chéo. Những xe « Tuk-tuk », một loại xe máy kéo vẫn còn chạy ngập đường mang theo khói đen làm ô nhiễm thành phố. Taxi, với những chiếc xe cũ kỹ, cũng không có nhiều, còn thua xa ..Sài Gòn. Còn xe hơi tư nhân thì đa số là những xe loại nhỏ, thỉnh thoảng có một vài xe lớn nhưng có lẽ còn thua những xe « xịn » mà tôi thấy ở …Phnom Penh. Thành phố còn nhiều xe hơi con có lẽ vì đường phố hẹp.

Cách di chuyển trong xứ Rajasthan không đơn giản, từ thành phố này sang thành phố khác phải mất nhiều thì giờ. Đường hoả xa có nhưng không nhiều, lại chậm chạp với những toa xe còn cũ kỹ. Đường hàng không New Delhi nối liền với 3 thành phố lớn Jaipur, Jodhpur, Udaipur có vài chuyến trong tuần nhưng muốn đi các thành phố khác thì không có. Xe đò có nhiều nhưng xe nào cũng cũ kỹ, chở « khẩm » người, thậm chí còn có nhiều người ngồi trên mui xe xem rất nguy hiểm. Ở Trung Quốc, tôi thường đi xe đò nhưng là những loại xe đò hiện đại rộng rãi có máy điều hoà, di chuyển giữa các thành phố rất thuận tiện.

Do vậy, cách đi thuận lợi nhất là thuê một xe du lịch có tài xế, và tốn kém nhiều hơn. Tôi đến một hãng du lịch ở khu quảng trường Connaught ký hợp đồng đi trong 17 ngày qua các thành phố như sau : Mandawa, Bikaner, Jaisalmer, Jodhpur, Ajmer-Pushkar, Udaipur, Jaipur, Agra, New-Delhi. Ở mỗi thành phố chúng tôi ở từ 1 đến 3 đêm tuỳ theo thắng cảnh của mỗi nơi. Do hãng du lịch đã đặt phòng khách sạn trước ở những nơi sẽ đi qua nên không phải mất thì giờ tìm kiếm nếu tự đi một mình.

Phải nói đó là những khách sạn khá tốt vì trước đây là những biệt thự tư nhân của những người giàu có. Có nơi là những lâu đài cũ của các maharaja biến thành khách sạn dành cho khách sang nước ngoài hoặc cho người giàu trong nước. Giá cả của những khách sạn « xịn » này trên vài trăm euros/đêm.

Rời New-Delhi vào buổi sáng đi Mandawa, một thành phố nhỏ về phía tây của New-Delhi. Cảm giác đầu tiên của tôi là không mấy hứng thú vì đường xá quá xấu xí, còn nhiều lỗ hổng. Chúng tôi đi qua các thị trấn nghèo nàn hầu như không có một quán ăn nào đáng nói. Chúng tôi phải ghé một quán ăn bên đường lộ, quán chỉ bán đồ « ăn chay » không có thịt cá. Ở Ấn Độ có nhiều quán loại này. Lý do thứ nhất là họ kiêng cữ ăn thịt súc vật (thịt heo, thịt bò), lý do thứ hai là thịt gà, thịt dê, cá, nhất là thịt cừu rất đắt tiền, trong khi đa số người dân có thu nhập kém, chỉ trừ những quán lớn có du khách nước ngoài mới có thịt cừu. Nên nhớ là người Ấn Độ kiêng cử không ăn thịt bò, người Hồi kiêng cử thịt heo.

Nói về bò, du khách lần đầu đến Ấn Độ phải bở ngỡ vì bò thả rong khắp nơi trên đường phố mà mỗi lần gặp đàn bò xe phải đợi hoặc tránh rồi mới đi. Bò lại tẩy uế khắp nơi mà hình như không ai quan tâm đến. Heo bò thường đến các đóng rác dơ bẩn để tìm « thức ăn » xem thật kinh hãi. Du khách có cảm giác là rác của thành phố không bao giờ được hốt. Tôi lại nhớ một truyện tiếu lâm về bò mà tôi có đọc trên báo. Khi tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô Khrushchev viếng thăm Ấn Độ từ phi trường về thành phố găp một đàn bò dừng lại giữa đường. Thủ tướng Nehru phải xuống xe cầu khẩn đàn bò tránh đi nhưng không hiệu quả. Cuối cùng, ông Khrushchev xuống xe nói nhỏ với bò trưởng một câu thì đàn bò bỏ chạy. Thủ tướng Nehru hỏi ông Khrushchev nói gì mà đàn bò chịu bỏ đi. Ông Khrushchev trả lời nói rằng tôi chỉ nói « nếu mi không chịu đi thì sẽ bị đưa đi trại cải tạo goulag! ». Đây là một truyện tiếu lâm có màu sắc chính trị nhưng thực tế là bò được người Ấn Độ tôn sùng như « mẹ ». Tôi hỏi bác tài xế nếu rủi xe cán bò chết thì ra sao ? Ông trả lời nếu quần chúng thấy, người cán bò sẽ bị hành hung (lyncher) nặng.

Một haveli dùng làm khách sạn cho du khách. Photo: Nguyễn Phụng

Một haveli dùng làm khách sạn cho du khách. Photo: Nguyễn Phụng

Chúng tôi đến Mandawa vào 16,30 giờ trưa. Thành phố có vẻ nghèo nàn nhưng còn giữ dấu ấn xa xưa với những ngôi nhà cổ kính. Ở Rajasthan, có một loại nhà xinh đẹp gọi là «haveli». Đó là những lâu đài nhỏ của các tiểu vương địa phương hay các thương gia menwari giàu có để lại, được biến cải thành khách sạn. Khách sạn của chúng tôi cư trú có tên Heritage Mandawa cũng thuộc loại này. Tiếc thay, tôi còn thấy nhiều haveli xinh đẹp ở các thành phố bị bỏ hoang vì chủ nhân không còn phương tiện tu sửa trong khi chính phủ lẽ ra phải quan tâm đến. Bà Nadine Leprince, một nghệ sĩ vẽ tranh nổi tiếng người Pháp, sau nhiều lần viếng thăm xứ này có mua ở Fatehpur (gần Mandawa), năm 1999, một haveli và tu sửa để ở và trưng bày tranh ảnh của bà.

Sau khi viếng thăm nhiều thắng cảnh ở đây, chúng tôi khởi hành ngày hôm sau đi về thành phố Bikaner cách đó độ 200 km ngoài. Đường xá tương đối tốt hơn nhưng cũng tầm thường. Đến Bikaner vào 14 giờ trưa, chúng tôi tạm trú ở khách sạn Sagar, một loại haveli khá đẹp. Thành phố Bikaner có nhiều haveli rất đẹp. Người hướng dẫn khách du lịch cho biết đa số chủ nhân của các haveli này không còn ở đây nữa, họ đi lập nghiệp ở những thành phố lớn hay ở nước ngoài và thỉnh thoảng trở lại đây vào các dịp cưới hỏi.

Cũng như mọi thành phố khác của Ấn Độ, cảnh heo bò lang thang trên các nẻo đường và để lại những đống phân bò làm du khách bở ngỡ nhưng đối với dân chúng là chuyện «bình thường». Thêm vào đó, người ta còn thấy nhiều con lạc đà có người hướng dẫn đi chung quanh các chợ trời. Đây là cách chuyển tải hàng hoá vào chợ. Ở những chợ trời trong thành phố, chỉ có xe « tuk-tuk » mới có thể  vào vì đường phố quá hẹp.

Bikaner có một pháo đài (forteresse/fortress) tráng lệ tên Junagarth nằm trên đồi cao được tiểu vương Singh xây cất năm 1593 dưới triều đại Akbar. Nhiều tranh vẽ trên tường tuyệt đẹp xem không chán. Khách nước ngoài thăm viếng phải trả 300 roupies (5 euros hay 6,7 dollars), trong khi giá dành cho người bản xứ chỉ có 25 roupies. Cần nói thêm là Ấn Độ còn áp dụng hai giá ở các nơi tham quan, như ở Việt Nam, giá cho người ngoại quốc và giá cho người bản xứ. Trung Quốc trước đây cũng áp dụng hai giá nhưng đã bỏ hơn 10 năm qua.

Viện bảo tàng Bikaner cũng đáng xem. Bikaner còn là thành phố của lạc đà vì hàng năm thành phố có tổ chức đua lạc đà trong tháng hai.

Chúng tôi rời Bikaner sau hai đêm để đi về thành phố Jaisalmer cách đó độ 300 km. Thành phố Jaisalmer nằm gần biên giới với Pakistan. Đây là vùng sa mạc Thar. Gần đến thành phố, chúng tôi thấy nhiều doanh trại quân đội và nhiều xe quân đội lai vãng trên đường. Tôi hỏi bác tài xế vùng này có yên tịnh không mà quân đội sao nhiều thế ? Ông nói rằng tình trạng chiến tranh giữa hai xứ vẫn còn, quân đội cần có mặt thường xuyên để bảo vệ an ninh. Chúng tôi đến Jaisalmer vào 17 giờ chiều và nhận phòng khách sạn. Khách sạn này không phải là haveli nhưng còn mới, đa số khách là người nước ngoài. Từ khách sạn, chúng tôi có thể nhìn thấy một pháo đài màu vàng trên đồi cao với thành tường dài 5 km bao vây. Jaisalmer là một thành phổ cổ được xây cất vào cuối thế kỷ 12. Đa số dân chúng còn sống trong pháo đài. Xe phải dừng trước pháo đài không được vào trong. Bên trong có nhiều đền thờ trang trí lộng lẫy. Trong vòng thành chỉ có người đi bộ hay xe gắn máy vì đường phố hẹp. Thành phố Jaisalmer trước đây là nơi dừng chân của lữ khách đi buôn đi buôn á phiện, đồ gia vị …giữa thung lũng Indus và Trung Á, như con đường tơ lụa, nhờ đó thành phố còn để lại nhiều haveli xinh đẹp. Nhưng từ khi Ấn Độ bị chia ra thành hai nước trong năm 1947, Jaisalmer trở nên suy thoái vì biên giới giữa hai xứ bị đóng cửa. Thương buôn chuyển đi sang nơi khác, biên giới không còn mở rộng như trước để các thương gia giao dịch.

Jaisalmer là vùng sa mạc nên nhiều hãng du lịch tổ chức cưỡi lạc đà đi tham quan chung quanh sa mạc. Cách thành phố không xa, có một lăng mộ nằm trên đồi với kiến trúc độc đáo dành cho maharaja và con cháu của họ. Lăng mộ này không kém lăng mộ của vua chúa nhà Thanh ở phía đông Bắc Kinh mà tôi có đi qua. Đúng là « con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa » như tục ngữ dân gian thường nói.

Chung quanh thành phố cũng có nhiều đền thờ hindu hay jain (jain là một đạo chủ trương không sát sinh và tu hành khổ hạnh) mà chúng tôi có đến xem.

Sau ba đêm ở nơi này, chúng tôi rời Jaisalmer để đi Jodhpur cách đó ngoài 300 km. Dọc đường nơi nào có thắng cảnh đáng xem thì chúng tôi dừng lại. Bác tài xế chuyên đi vùng này nên ghé ở những nơi đáng xem dù hẻo lánh đến đâu. Chúng tôi tới Johdpur vào ban chiều và ngủ đêm ở một haveli cũ. Jodhpur là một thành phố với một triệu dân có nhiều thắng cảnh lớn. Hai thành phố mà tôi thích nhất ở Rajasthan là thành phố Jodhpur và Udaipur. Cũng như đa số thành phố của Rajasthan, thành phố nào cũng có pháo đài lớn. Pháo đài Jodhpur có tên là Mehrangarth nằm trên đồi cao 135 m và dài 1,5 km được xây cất năm 1459. Các hậu duệ của maharaja sáng lập sống ở pháo đài này cho tới đầu thế kỷ 20 mới chuyển sang sống ở một lâu đài tráng lệ khác mà du khách có thể đến viếng thăm. Jodhpur còn có nhiều lâu đài khác như «tiểu Taj Mahal», một lâu đài bắt chước theo lối kiến trúc của Taj Mahal ở Agra.

Sau hai đêm ở Jodhpur, chúng tôi rời thành phố này với nhiều luyến tiếc vì thiếu thời gian. Trên đường đi về Udaipur, chúng tôi ghé nhiều nơi như làng người vishnou, và viếng một lâu đài tráng lệ nằm xa đường chính mà không thấy trong sách hướng dẫn, chỉ có xe du lịch mới có thể vào những nơi này. Tôi không hiểu tại sao lại có một lâu đài tráng lệ như thế này trong khi dân chúng rất thưa thớt. Vùng này còn là nơi sản xuất thảm và vải rất đẹp. Do đi xem nhiều thắng cảnh, xe chúng tôi mới đến Udaipur vào 20.30 giờ chiều. Chúng tôi nghỉ tại  khách sạn Pichola, một haveli nằm sát sông. Pichola là tên con sông nổi tiếng của Udaipur. Trên sông có một lâu đài màu trắng rất xinh đẹp. Vào buổi sáng, tôi thấy nhiều người xuống sông tắm mà nước chắc chắn phải ô nhiễm vì tất cả nước thải của thành phố đều đưa thải xuống đây.

Udaipur là một thành phố cổ xinh đẹp có nửa triệu dân với những đường nhỏ hẹp nhưng náo nhiệt. Khác với các thành phố mà chúng tôi đi đã qua, Udaipur có núi non, sông hồ bao vây đặc biệt là lâu đài City Palace tráng lệ nằm ngay trong thành phố. Dân của thành phố này rất tự hào vì không bị người hồi giáo hoặc người Anh chiếm đóng. Lại nữa, những vua của Udaipur có chức maharana, tương đương với công tước (duc) thay vì maharaja, tương đương với nam tước (baron).

Lâu đài City Palace được maharana Udai Singh xây cất năm 1559 cao 30,4 thước và dài 244 thước. Bên trong lâu đài còn nhiều báu vật và tranh tượng lộng lẫy. Sách du lịch Ấn Độ còn cho biết lâu đài này lớn nhất của Rajasthan và «đẹp nhất thế giới». Lời ca tụng này có lẽ quá đáng nhưng phải nói vị trí của lâu đài khá độc đáo vì nó nằm bên sông thơ mộng với dòng nước xanh. Udaipur còn là nơi được chọn lựa đóng hai phim nổi tiếng : Tigre de Bengale của Fritz Lang năm 1958 và Octopussy (phim James Bond 007) của Ian Fleming năm 1983. Ở đây du khách còn có thể đi thuyền trên sông trong vài giờ với giá là  325 roupies/người và xem múa vũ truyền thống Ấn Độ.

Múa truyền thống ở Udaipur. Photo: Nguyễn Phụng

Múa truyền thống ở Udaipur. Photo: Nguyễn Phụng

Chúng tôi rời Udaipur sau ba đêm ở thành phố thơ mộng này để đi Ajmer-Pushkar. Ajmer và Pushkar là hai thành phố nằm cạnh nhau chỉ cách 10 km ngoài. Du khách chỉ ghé qua Ajmer để viếng Golden temple, một đền mà bên trong có trưng bày hình tượng lâu đài thu nhỏ mạ vàng. Còn Pushkar là một thành phố hành hương nằm bên cạnh hồ nước «thiêng liêng». Hàng năm vào lễ hành hương, người ta đến rất đông và xuống tắm nước hồ. Pushka là một trong những thành phố hiếm thờ thần Brahma, một thần sáng lập Chúa Ba ngôi (Trinité). Đền Brahma là một trong nhiều đền thờ của thành phố được du khách đến viếng thăm.

Có lẽ vì là thành phố hành hương nên ai cũng «ăn chay» trường, ngay cả trứng gà cũng không có. Thành phố ít xe, dân chúng chỉ đi bộ hay đi xe đạp. Đường phố nhiều nơi chưa tráng nhựa. Pushkar còn là thành phố «thiên đàng» của  khách « bụi đời» (hippie)  từ bốn phương tới, đặc biệt là du khách nam nữ phương tây. Ngoài đường người ta có thể thấy những du khách này mặc theo người Ấn Độ, đi chân không, tóc xả dài, râu ria rậm rạp. Vào ban chiều, họ tụ tập ngồi trong quán hút cần sa. Tôi còn nhớ ở Kathmandu, thủ đô xứ Nepal có một khu đặc biệt dành cho loại du khách hippie này nhưng sau đó chính quyền cho đóng cửa từ đầu thập niên 90. Tôi có dịp hỏi một người gốc Québec lập nghiệp tại đây hơn 25 năm và có vợ người Ấn lý do tại sao nơi này người ta có thể hút cần sa trong khi toàn xứ bị cấm hút. Ông nói rằng chính quyền địa phương tham nhũng nên làm ngơ.

Sau hai đêm ở đây, chúng tôi đi về Jaipur, thủ đô của Rajasthan. Đường xá bắt đầu khá tốt, còn mới, có bốn lằn xe. Xe cộ đi lại nhiều vì là trục giao thông chính giữa các thành phố và thủ đô.

Jaipur là một thành phố cận đại với 2,4 triệu dân do maharaja Jai Singh II xây cất vào đầu thế kỷ 18. Ông là một nhà chiến lược tài ba, có khuynh hướng tiến bộ và ham chuộng khoa học đặc biệt là thiên văn. Do đó, ông cho xây cất đài thiên văn Jantar Matar với lối kiến trúc lạ thường để xem tinh tú và mặt trời cùng thời khắc. Về thời khắc, cách đo giờ giấc thật chính xác lạ kỳ. Chỉ cần nhìn bóng mặt trời chiếu xuống trên một tường nghiên có ghi khắc thời khắc rồi cộng thêm một công thức toán đơn giản có sẵn thì tính ra giờ chính xác. Tôi chưa thấy nơi nào có đài thiên văn như thế. Bên cạnh đài là City Palace và lâu đài Hawa Mahal xinh đẹp.

Jaipur còn là thành phố có nhiều viện bảo tàng và pháo đài lớn, đặc biệt là pháo đài Amber hùng vĩ nằm ở ngoại ô. Du khách có thể thuê voi đi từ ngoài lên đồi. Pháo đài Amber rộng mênh mông với kiến trúc moghol còn chứa nhiều báu vật và tranh ảnh chạm khắc trên tường. Ngoài pháo đài Amber, còn có nhiều lâu đài tráng lệ khác như Jaigarh, Narhagarh, Sanganer vv.. Vì là thủ đô của Rajasthan, Jaipur có nhiều cửa hàng lớn cũng như nhiều cửa hàng nhỏ nằm trong đường hẻm với đủ thứ hàng hoá. Jaipur còn nổi tiếng về đá quý và thủ công nghệ tinh xảo. Trong thành phố có một rạp chiếu bóng khá đặc biệt tên Raj Mandir. Rạp có thể chứa cả ngàn người và chiếu bốn xuất mỗi ngày, nhưng phải mua vé trước, nếu không không có chỗ. Nơi này, ngoài việc xem phim bình dân, còn là nơi tập tụ của giới già trẻ đến chuyện trò gặp gỡ dù giá vào cửa không rẻ. Tôi chưa thấy có rạp chiếu bóng nào có không khí ồn ào náo nhiệt như thế. Mỗi lần trên phim có những màn nhạy cảm, tiếng la ó kèm theo làm chấn động cả hội trường chưa kể những tiếng chuyện trò bàn tán.

Chúng tôi rời thành phố này sau 3 đêm ngắn ngủi vì còn nhiều nơi chưa xem hết, và đi về Agra, thành phố thơ mộng cuối cùng. Trên đường đi, chúng tôi gặp chuyện bất ngờ là dân chúng chận đường biểu tình phản đối chính phủ tăng giá nước cao. Do không biết biểu tình lúc nào mới chấm dứt mà đường còn xa, bác tài xế cho rẽ xe đi vào các đường làng hẻo lánh, nhờ vậy mà chúng tôi thấy được những cảnh làng còn nghèo khó. Dân chúng ăn mặc còn rách rưới, trẻ con trông ốm yếu tiều tuỵ. Trước nhà là những bã phân trâu chồng chất làm tường. Đó là nguyên liệu thay củi để nấu nướng. Ở đây, trâu không dùng để cày cấy mà để lấy sữa. Xe phải đi hơn 50 km mới ra đường chính.

Trên đường chúng tôi có ghé viếng thăm một đền thờ khỉ (Monkey temple). Trong đền, ngoại trừ vài người trông nom, toàn là khỉ chạy tứ tung. Người Ấn rất tôn sùng thú vật, họ thờ cả chuột ! Cách thành phố Bikaner 30 km, có một đền thờ chuột vì họ tin rằng chuột là con vật linh thiêng phải thờ để kiếp sau có thể trở thành thần. Một lần ở Delhi, bác tài xế xin phép chúng tôi để ghé ở một quảng trường có nhiều đàn bồ câu sinh sống. Ông xuống xe cho bồ câu ăn uống rồi xá vài cái mới lên đường. Tôi hỏi ông làm như vậy thì được gì ? Ông nói sẽ được phước lành tránh được tai nạn xe cộ ! Tôi muốn nói tránh tai nạn xe cộ phải lái cẩn thận nhưng lại thôi vì sợ đụng chạm tới tín ngưỡng. Mê tính dị đoan còn thịnh hành ở nhiều nơi, có lẽ vì Ấn Độ còn quá nhiều đền thờ đủ thứ thần.

Trên đường đi về Agra, chúng tôi thấy nhiều đại học tư cũng như nhiều hãng xưởng đang được xây dựng. Trước Agra lối 40 chục km, chúng tôi ghé thăm viếng cung điện Fatehpur Sikri, một cung điện được Unesco công nhận là di sản thế giới năm 1986. Cũng như Agra, Fatehpur Sikri thuộc địa phận xứ Uttah Pradesh, không còn nằm trong địa phận của Rajasthan. Thành phố này trước đây là thủ đô trong thời gian ngắn từ 1571 đến 1584.

Tương truyền hoàng đế Akbar không con trong thời gian dài. Ông đến đây gặp một ẩn sĩ xin phép lành, nhờ vậy mà ông có được ba con. Để trả ơn, ông chuyển thủ đô Agra về đây trước khi chuyển về Lahore, nay thuộc xứ Pakistan. Cung điện Fatehpur Sikri nằm trên đồi cao phải lấy xe bus riêng của lâu đài đi lên, xe hơi nhỏ bị cấm. Cung điện màu đỏ dài 3,5 km và rộng 1,5 km bao vây bởi một thành tường 6 km. Bên trong có nhiều lâu đài tráng lệ đặc biệt là thánh điện Jama (mosque) rộng hơn 2.000 thước vuông và có thể chứa hơn 10 ngàn tín đồ. Do đi viếng nhiều nơi, chúng tôi đến Agra vào 20 giờ chiều và nghỉ tại một khách sạn gần cung điện Taj Mahal.

Agra với 1,7 triệu dân có nhiều thay đổi lớn so với 13 năm trước. Gần lâu đài Taj Mahal, nhiều khách sạn lớn được xây cất, đường phố được tráng nhựa tốt. Agra có nhiều lâu đài trong đó lăng mộ Taj Mahal và pháo đài đỏ (Red Fort) được đưa vào di sản thế giới năm 1983.

Agra do sultan (vua) Skanda Lodi của Delhi xây cất năm 1501 để làm thủ đô. Sultan Skanda Lodi bị Babur, người sáng lập triều đại moghol đánh bại và chiếm đóng Agra năm 1526. Cháu của Babur là Shah Jahan đặt Agra thành thủ đô năm 1556. Khi người ái phi tên là Mumtaz Mahal mất, Shah Jahan cho xây năm 1631 lăng Taj Mahal để chôn cất và tưởng niệm bà. Taj Mahal có thể gọi là châu báu của nghệ thuật kiến trúc Hồi và cũng có lẽ là cung điện được nhiều người trên thế giới biết đến. Cung điện được xây bằng đá hoa (cẩm thạch) trắng, trong đó người ta khảm thêm đá quí trong cẩm thạch. Cung điện nằm trong một khu đất được trang trí hoa mỹ. Nhìn từ xa, Taj Mahal xem thật uy nghi hùng vĩ. Các nguyên thủ nước ngoài đều đến đây thăm viếng. Hàng năm, Agra tiếp đón nhiều triệu du khách. Tôi nhớ cựu tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton có lần thố lộ nói lúc còn sinh viên ông ước mơ có ngày viếng thăm Agra và Taj Mahal. Giấc mơ của ông được thực hiện khi ông đã trở thành tổng thống. Bên cạnh Taj Mahal là cung điện Itimad-ud-Daula, một lăng mộ của nhạc phụ của hoàng đế Jahangir xây cất năm 1622. Cách đó vài cây số là pháo đài đỏ (Red Fort) do hoàng đế Akbar xây năm 1565. Vòng thành của pháo đài có 2,5 km. Hoàng đế Shah Jahan lấy làm nơi cư trú và cũng là nơi ông bị con là hoàng đế Aurangzeb bỏ tù cho đến khi chết. Pháo đài đỏ này thật xinh đẹp. Từ trên pháo đài người ta có thể nhìn xuống con sông Yamuna với dòng nước xanh đang cạn nước dần. Chuyến đi của chúng tôi kể như kết thúc ở đây trong khung cảnh thơ mộng và hùng vĩ.

Thay lời kết

Cái thú đi du lịch nước ngoài là xem phong cảnh lớn cùng tìm hiểu phong tục tập quán của mỗi xứ. Theo nhận xét cá nhân tôi, muốn hưởng được trọn vẹn cái thú du lịch cần phải có ba nhân tố chính sau : xứ có nhiều phong cảnh lớn, phong cách tiếp đón du khách và ẩm thực của xứ. Hội đủ ba yếu tố này không dễ. Trung Quốc có phong cảnh lớn và ẩm thực nhưng thiếu phong cách tiếp đón du khách, trong khi Ấn Độ lại thiếu ẩm thực. Như trên đã nói là người Ấn và người Hồi, vì lý do tôn giáo, kiêng cử thịt bò thịt heo, chỉ ăn thịt cừu nên thịt cừu đắt đỏ. Cách nấu thường xoay quanh nấu ca-ry, ăn mãi trở nên nhàm chán. Do đó, nếu không phải là người ăn chay, ăn uống ở Ấn Độ không rẻ so với Việt Nam hay các nước lân cận. Người Ấn tiếp đón niềm nở nhưng có tật thường đưa du khách tới các cửa hiệu bán hàng để có hoa hồng, có lẽ cũng là tập quán của một nước còn nghèo. Một chú ý khác của tôi là phụ nữ Ấn rất duyên dáng trong bộ y phục truyền thống với màu mè sặc sỡ, dù nghèo hay giàu. Vì vậy, du khách phụ nữ nước ngoài không ngần ngại bỏ y phục Âu Tây để mặc y phục phụ nữ Ấn sau vài ngày đặt chân đến.

Xã hội Ấn Độ còn nhiều phân cách về đẳng cấp và giữa người nghèo giàu. Các maharaja còn có cả trăm người phục vụ trong các lâu đài tráng lệ trong khi thu nhập người nghèo chỉ có 1 euro/ngày (60 roupies), thậm chí không đến. Ngay cả người quý phái hay giàu có Âu Tây cũng chưa có người phục vụ đông đảo như thế.

Trong những năm gần đây Ấn Độ có tăng trưởng khá cao với 7-8%/năm, chỉ kém Trung Quốc. Ở chung quanh các thành phố lớn, người ta thấy có nhiều xây dựng đường xá, cầu cống, cục ốc, cơ sở xí nghiệp, đại học … Nhưng theo thiển ý của tôi, phát triển của Ấn Độ hiện nay còn quá chậm. Người Trung Quốc làm việc ngày đêm ở các công trường trong khi người Ấn bắt đầu làm việc từ 10 giờ sáng và ngưng vào 17 giờ chiều. Tôi muốn thấy Ấn Độ tăng trưởng nhanh để làm đối trọng với Trung Quốc trong vùng, nhưng tôi e rằng trong cuộc « chạy đua » này, phần thắng không về phía Ấn Độ. Lại nữa, Ấn Độ còn phải bỏ nhiều sinh lực để đương đầu với người «anh em» cũ Pakistan mà Trung Quốc đứng sau hỗ trợ. Nói chung, một chuyến đi du lịch bổ  ích và không kém phần hứng thú ở Rajasthan.

NP – Paris, tháng 4-2011.