Phổ Nghi, vị Hoàng đế cuối cùng

Phổ Nghi, vị Hoàng đế cuối cùng

Phụng Nguyễn (France)

Lời giới thiệu

ca. 1940 --- Emperor Pu Yi (known as Henry Puyi in the west) was the last  emperor of China.  He was the first emperor of Manchuko from 1934-35, a puppet monarch for the Japanese. --- Image by © CORBIS

ca. 1940 — Emperor Pu Yi (known as Henry Puyi) was the last emperor of China. He was the first emperor of Manchuko from 1934-35 – Image by © CORBIS

Ngày 29-4-2009, đài truyền hình Arte của Pháp có chiếu một phim tư liệu về cuộc đời của Phổ Nghi, vị hoàng đế cuối cùng của xứ Trung Hoa. Tư liệu của phim rất phong phú với những hình ảnh từ đầu thế kỷ 20 cho đến khi Phổ Nghi từ trần năm 1967. Cuốn phim đã gợi ý cho người viết bài này vì nhận thấy trường hợp của vị vua này khá hi hữu.

Trong lịch sử vua chúa, người ta thỉnh thoảng thấy một ông vua thoái vị trở lại ngôi vàng nhưng ít thấy một ông vua ba lần thoái vị. Đó là trường hợp của Phổ Nghi, vị hoàng đế cuối cùng của xứ Trung Hoa. Phổ Nghi lần đầu thoái vị vào tháng 2-1912 sau khi lên ngôi vào tháng 12-1908. Lần thoái vị thứ hai vào tháng 7-1917 sau khi trở lại ngôi được 12 ngày. Lần thoái vị thứ ba vào tháng 8-1945 sau khi Nhật thất trận và đầu hàng. Nếu hai lần đầu, Phổ Nghi thoái vị với tư cách hoàng đế Trung Hoa, lần thứ ba Phổ Nghi thoái vị với cương vị « hoàng đế Mãn Châu quốc ».

Tổng cộng đời làm vua của Phổ Nghi được 14 năm cộng thêm 14 năm lao tù trong đó 5 năm ở Liên Xô và 9 năm ở Trung Quốc.

Vào cuối đời, Phổ Nghi trở thành một thường dân dưới chế độ « xã hội chủ nghĩa », sống bằng sức lao động với đồng lương mỗi tháng một trăm nhân dân tệ (không tới 10 euros hiện nay).

Trường hợp của vua Phổ Nghi khá hi hữu nếu không nói là độc nhất so với các vua chúa trên thế giới. Đa số các nhà vua sau khi thoái vị, trừ trường hợp bị giết hoặc bị truất phế, đều lưu vong ở nước ngoài tiếp tục sống trong nhung lụa cho đến khi chết.

Cuộc đời của Phổ Nghi được nhà đạo diễn Ý Bernado Bertolucci dựng thành phim với tựa đề « Hoàng đế cuối cùng ». Vậy vua Phổ Nghi là ai ?

I-Giòng dõi vua Phổ Nghi

Cựu hoàng đế Henry Phổ Nghi có tên Mãn là Aisin Gioro Puyi mà người Trung quốc dịch là Ái Tân Giác La Phổ Nghi (爱 新 觉 罗 溥 仪), sinh ngày 7-2-1906 ở Bắc Kinh. Phổ Nghi là con của hoàng thân Tải Phong (载 沣, 1883-1951) và bà Ấu Lan (幼 兰, 1884-1921). Bà Ấu Lan là vợ thứ của Tải Phong và là con của tướng Vinh Lộc (荣 录, 1836-1903), một quan thần được Từ Hi Thái hậu (慈 禧, 1835-1908) tin dùng và trọng dụng.

Tải Phong là con của Thuần Hiền Thân vương (醇 贤 亲 王 , 1840-1891) và bà họ Lưu (1866-1925), một người thiếp sau đổi sang thị tộc Mãn Châu thành Lingiya. Thuần Hiền Thân vương là con thứ 7 của Hoàng đế Đạo Quang 道 光 (trị vì 1820-1850) và anh em cùng cha khác mẹ với hoàng đế Hàm Phong 咸 丰 (trị vì 1850-1861). Như vậy, hoàng đế Đạo Quang là ông cố và Thuần Hiền Thân vương là ông nội của Phổ Nghi.

Sau khi vua Hàm Phong mất, nhà vua không có con chính với hoàng hậu Từ An (慈 安, 1837-1881) nên phải đưa thái tử Tải Thuần tức là vua Đồng Trị 同 治 (trị vì 1861-1875), con trai của vua Hàm Phong với thứ phi Từ Hi thái hậu lên nối ngôi. Hoàng hậu Từ An và Từ Hi thái hậu đồng làm nhiếp chính. Do đó có tên đồng trị nghĩa là cùng cai trị. Khi vua Đồng Trị mất vào lúc 17 tuổi vì bệnh phong tình, vua Quang Tự 光 绪 (trị vì 1875-1908) được Từ Hi thái hậu đưa lên tiếp ngôi. Đặc điểm của vua Quang Tự là cha thuộc dòng hoàng tộc và mẹ là con gái của em trai Từ Hi thái hậu. Như vậy, Từ Hi thái hậu là bà hai bên của vua Quang Tự.

Vua Quang Tự sau khi lên ngôi muốn cải tổ nhằm đổi mới xứ Trung Hoa và thành lập Hiến pháp theo chế độ quân chủ. Hai người đứng ra trợ giúp vua Quang Tự làm cải cách là Khương Hữu Vi (Kang Youwei, 康 有 为,) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 梁 启 超). Cuộc cải cách « 100 ngày » bị thất bại vì bị Từ Hi thái hậu và nhóm thủ cựu trong triều làm chống phá cản trở. Vua Quang Tự bị Từ Hi thái hậu bắt bỏ ngục năm 1898 và bị ám hại bằng độc dược arsenic chết ngày 14 tháng 11 năm 1908 sau 10 năm bị giam cầm. Từ Hi thái hậu biết mình sắp chết nên làm ám hại vua Quang Tự vì sợ rằng sau khi bà ta qua đời, vua Quang Tự sẽ giành lại ngai vàng để tiếp tục cải tổ.

Vì vua Quang Tự không con nên Phổ Nghi được Từ Hi thái hậu đưa lên nối ngôi ngày 2-12-1908 và cũng là hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh và triều đại phong kiến Trung Hoa.

Từ Hi thái hậu đột ngột từ trần sau một ngày vua Quang Tự băng hà.

II-Thời kỳ lên ngôi ngắn ngủi của Phổ Nghi

Vua Phổ Nghi lên ngôi lúc chưa đầy 3 tuổi, thái hậu Long Dụ 隆 裕, 1868-1913 (vợ vua Quang Tự) và cha là Tải Phong cùng làm nhiếp chính. Khi cách mạng Tân Hợi của Tôn Dật Tiên (孙 逸 仙, 1866-1925) thành công trong tháng 10 năm 1911, triều đại nhà Thanh chính thức cáo chung ngày 12-2-1912. Phổ Nghi làm vua được gần 3 năm với niên hiệu Tuyên Thống 宣 统.

Sau khi thoái vị, Phổ Nghi và gia đình, theo một hiệp định ưu đãi ký kết với chính phủ Cộng Hoà, được tiếp tục cư trú trong Cố Cung ngoại trừ ba cung điện nhường cho chính phủ Cộng Hoà và hưởng một số đặc quyền rất lớn. Theo hiệp định ưu đãi này, Phổ Nghi vẫn giữ cương vị vua, vẫn tiếp tục tiếp khách nguyên thủ nước ngoài tuy mất hết quyền lực. Ngoài ra, nhà vua mỗi năm được phụ cấp 4 triệu lạng bạc tương đương với 4 triệu đô-la Mexico đương thời. Các quan chức và các hoạn quan phục vụ vẫn giữ nguyên. Chính phủ Cộng Hoà cam kết bảo vệ nhân mạng và tài sản của gia đình nhà vua cùng bảo vệ các lăng tẩm vua chúa.

Sau khi nhà Thanh cáo chung, nước Trung Hoa bước vào tình trạng hỗn loạn chính trị. Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) trở thành tổng thống Cộng hoà Trung Hoa ngày 1-1-1912 nhưng bắt buộc phải nhường chổ cho tướng phản trắc Viên Thế Khải (袁 世 凯, 1859-1916) vào ngày 15-2-1912. Trong khi Tôn Dật Tiên và các bạn đồng hành trốn chạy sang Nhật, Viên Thế Khải được các cường quốc ủng hộ đứng ra tuyên bố tái lập nền quân chủ vào đầu tháng 1-1916 với niên hiệu Hồng Hiến 洪 宪. Nhưng sau đó, họ Viên bị các nhóm đốc quân phản đối và bị các cường quốc bỏ rơi nên buộc lòng phải khước từ ngôi báu vào ngày 22-3-1916 và từ trần ngày 6-6-1916 trong tuyệt vọng.

Sau khi họ Viên chết, nước Trung Hoa đi từ tình trạng hỗn loạn chính trị đến tình trạng sứ quân. Ở thủ đô, các nhóm quân phiệt Trực Lệ, Phụng Thiên và An Huy tranh dành quyền lực. Mỗi nhóm đều có hậu thuẩn ngoại bang đứng sau trong khi ở tỉnh, nạn đốc quân chiếm cứ tranh hùng, không ai tùng phục ai. Tình trạng sứ quân không khác gì thời kỳ chiến quốc [1].

Lê Nguyên Hồng (黎 元 洪, 1864-1928), phó tổng thống trong thời kỳ Viên Thế Khải làm tổng thống, thuộc nhóm Trực Lệ tái lập Hiến pháp tạm thời lên thay Viên làm tổng thống. Đoàn Kỳ Thuỵ (段 祺 瑞, 1865-1936), thuộc nhóm An Huy được bổ nhiệm thủ tướng.

Lê Nguyên Hồng có hậu thuẩn Anh Mỹ trong khi Đoàn Kỳ Thuỵ có hậu thuẩn của Nhật. Khi thế chiến lần thứ I bùng nổ, Lê Nguyên Hồng và Đoàn Kỳ Thuỵ không đồng ý kiến về sự tham gia của Trung Hoa tuyên chiến với Đức quốc. Do sự bất đồng ý kiến, Lê Nguyên Hồng cách chức Đoàn Kỳ Thuỵ. Họ Đoàn liên minh với các nhóm quân phiệt khác tuyên bố độc lập và hăm doạ kéo quân về thủ đô. Lê Nguyên Hồng không còn cách nào khác là nhờ Trương Huân (张 勋, 1854-1923), tổng trấn quân đội tỉnh An Huy đứng ra làm trung gian hoà giải. Nhưng Trương Huân có khuynh hướng bảo hoàng. Trương kéo quân về thủ đô buộc Lê Nguyên Hồng giải tán Quốc hội và từ chức.

Ngày 1-7-1917, Trương Huân đưa Phổ Nghi trở lại ngôi báu trong 12 ngày. Đoàn Kỳ Thuỵ bất mãn trở mặt kéo quân về thủ đô đuổi Trương Huân. Một lần nữa, vua Phổ Nghi phải thoái vị và tiếp tục sống với gia đình trong nửa phía Bắc Tử Cấm Thành cho đến tháng 11 năm 1924 thì bị một quân phiệt khác tên Phùng Ngọc Tường (冯 玉 祥, 1882-1948) đuổi ra khỏi cung điện. Lần này, Phổ Nghi và gia quyến mất hết các đặc quyền của hiệp định ưu đãi.

Một sự kiện lịch sử đáng ghi lại là ngày 27-6-1923, lửa đột nhiên bốc cháy thiêu rụi tất cả 130 gian phòng ở các điện Kiến Hoà, Loan Nghi Đình, Diên Xuân các, Bảo Hoà, Kiến Phúc vv.. trong Tử Cấm Thành chỉ cách một bức tường nơi Phổ Nghi ở. Người ta cho sự cố này do một số hoạn quan (thái giám) sợ bị tố cáo tham nhũng chủ trương đốt cháy. Vì vậy sau đó, chỉ còn 170 hoạn quan trên số 900 được giữ lại.

Sau nhiều tháng sống lang thang ở nhiều nơi, Phổ Nghi lúc đầu có ý định nhờ người thầy dạy cũ người Anh Reginald Fleming Johnston xin can thiệp chính quyền Anh được tị nạn nhưng không thành. Cuối cùng, Phổ Nghi chạy trốn vào công sứ Nhật và được người Nhật bí mật đưa gia đình Phổ Nghi đến tô giới của họ ở Thiên Tân 天 津 trong tháng 2-1925. Phổ Nghi và gia đình ở Thiên Tân cho đến cuối năm 1931 thì người Nhật bí mật đưa về Trường Xuân 长 春, thủ phủ tỉnh Cát Lâm 吉 林 vào tháng 3-1932 sau một thời gian ở Lữ Thuận 旅 顺.

III-Giai đoạn mới của Phổ Nghi

Cuộc đời của Phổ Nghi bước sang giai đoạn mới : giai đoạn hợp tác với Nhật.

Năm 1931, Nhật sau khi chiếm đóng ba tỉnh Đông Bắc đưa Phổ Nghi lên thành lập một chính quyền bù nhìn ở Trường Xuân trong tháng 3-1932 với cương vị « Quốc trưởng » . Dù vậy, Phổ Nghi không mấy hài lòng vì ước vọng của Phổ Nghi là muốn người Nhật đưa ông ta trở lại làm « hoàng đế Trung Hoa ». Nhưng cuối cùng người Nhật cũng thoả mãn một phần ước vọng của Phổ Nghi với chức « hoàng đế Mãn Châu quốc » do họ dựng lên. Phổ Nghi « lên ngôi » ngày 1-3-1934 lấy niên hiệu Khang Đức 康 德.

Mãn Châu gồm ba tỉnh Liêu Ninh, Cát Lâm và Hắc Long Giang ngày nay.

[Theo sử liệu, ba tỉnh Đông Bắc này thuộc Triều Tiên từ thế kỷ V đến thế kỷ X qua hai triều đại KOGURO (thế kỷ V-VII) và PARHAE (thế kỷ VII-X) mà người Trung Quốc dịch là Cao Cú Lệ 高 句 丽và Bột Hải 渤 海].

Tháng 4-1935, người Nhật đưa Phổ Nghi viếng thăm chính thức Đông Kinh được Nhật hoàng Hirohito tiếp đón trọng thể. Dù vậy, trong thời gian làm vua « Mãn Châu quốc », Phổ Nghi chỉ làm hư vị, mọi quyền hành do người Nhật nắm giữ.

Ngày 7-12-1941, Nhật Bổn tấn công Pearl Habour, khởi đầu chiến tranh với các nước đồng minh.

Ngày 15-8-1945, khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng, người Nhật đưa Phổ Nghi cùng 9 thân nhân chạy trốn với dự tính đưa sang Nhật. Khi đến một trại hẻo lánh, Phổ Nghi tuyên bố thoái vị ngày 17-8-1945. Phổ Nghi sau đó bị Hồng quân Liên Xô bắt ở phi trường Thẫm Dương 沈 阳 trên đường đào thoát. Có nguồn tin nói chính người Nhật thông báo cho Hồng quân Liên Xô đến bắt Phổ Nghi.

Phổ Nghi bị đem về Liên Xô và bị giam lúc ban đầu ở trại lao Chita rồi sau đó đưa về trại tù binh ở Kharbarovsk (Tây Bá Lợi Á) trong 5 năm. Ở đây, Phổ Nghi được đối đãi tử tế như  » khách quí ». Ngày ba bữa cơm, khi đi dạo có người theo hầu cận, không phải làm lao động, thỉnh thoảng còn được ăn caviar (một loại trứng cá đắc tiền). Phổ Nghi khá hài lòng với chế độ « lao tù » này. Năm 1946, Liên Xô đưa Phổ Nghi sang Đông Kinh tham dự làm chứng phiên toà tội ác chiến tranh rồi sau đó đưa trở về Liên Xô vào tháng 9-1946. Trong thời gian bị giam lỏng ở Kharbarovsk, Phổ Nghi thư cho Stalin đề nghị biếu tặng hết báu vật bằng ngọc, vàng và bạc mà ông ta đã giấu trong vali hai đáy khi chạy trốn với hy vọng Stalin cho phép ở lại Liên Xô. Thư Phổ Nghi cho Stalin không được hồi âm.

Khi Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai sang viếng thăm chính thức Liên Xô năm 1950, hai nước đồng ý đưa Phổ Nghi và các tội phạm chiến tranh « Mãn Châu quốc » về Trung Quốc. Khi nghe tin bị đưa về Trung Quốc, Phổ Nghi trong cơn tuyệt vọng đã tìm cách tự sát nhưng bất thành. Về Trung Quốc ngày 14-7-1950, Phổ Nghi bị đưa đến trại cải tạo Phủ Thuận 扶 顺 tỉnh Liêu Ninh 辽 宁. Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ năm 1950, tù nhân trại Phủ Thuận được chuyển đi nơi khác vì vấn đề an ninh cho đến 1954 thì trở lại Phủ Thuận. Phổ Nghi ở nơi đó cho đến tháng 12 năm 1959 thì được Mao ân xá vì « học tập cải tạo tốt ». Khi được thông báo ân xá, Phổ Nghi không tin tên mình có trong danh sách được ân xá. Khi biết có tên mình, Phổ Nghi quá xúc động đến phát khóc.

Phổ Nghi (Pu Yi)  1958, NP

Phổ Nghi (Pu Yi) 1958, NP

IV-Phổ Nghi vào cuối đời

Năm ngày sau khi được ân xá, Phổ Nghi về Bắc Kinh ở tạm với người em gái nơi nhà cũ của cha trong 6 tháng trước khi được chính phủ chuyển sang ở khách sạn được họ bảo trợ.

Tháng 3-1960, Phổ Nghi được bố trí làm nhân viên cho thảo cầm viên thực vật rồi nhân viên Ban văn sử của Hôi nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc (Chính Hiệp) với đồng lương một trăm nhân dân tệ/tháng trước khi trở thành thành viên chính thức của cơ quan này trong năm 1964.

Trong thời gian về Bắc Kinh, Phổ Nghi được Mao và Châu Ân Lai tiếp kiến. Hai người này khuyến khích Phổ Nghi viết hồi ký. Phổ Nghi viết xong quyển hồi ký  » Nửa đời trước của tôi, Wo de qian ban sheng, 我 的 前 半 生 » năm 1964 và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Thực ra, Phổ Nghi trong thời gian ở tù, viết năm 1951, bản thú tội với 450 ngàn chữ. Bản thú tội được chuyển thành quyển hồi ký. Số phận của tác phẩm cũng long đong không kém như tác giả của nó. Quyển sách bị cắt xén nội dung đến mấy chục lần cho đến cuối năm 2006 mới được hồi phục nguyên vẹn. Bản cuối cùng có bổ sung thêm 160 ngàn chữ trong đó nhiều bí mật lịch sử được làm sáng tỏ như chuyện ngoại tình của hoàng hậu Uyển Dung với đứa con ngoại hôn bị Phổ Nghi quăng vào lò lửa trong cơn thịnh nộ.

Bản viết năm 1964 được dịch ra tiếng Anh với đề tựa  » From Emperor to citizen ». Bản tiếng Đức năm 1973 với đề tựa  » Pu-Yi Ich war Kaiser von China » được NXB Flammarion dịch sang tiếng Pháp năm 1975 với đề tựa  » Tôi đã là hoàng đế Trung Hoa, J’étais empereur de Chine « .

Trong thời gian Đại cách mạng Văn hoá (1966-1976), Phổ Nghi tuy bản thân không bị truy tố nhưng phần ăn và lương bổng bị cắt giảm và tiền thù lao viết sách bị huỷ bỏ.

Phổ Nghi từ trần ngày 17-10-1967 ở Bắc Kinh vì ung thư bọng đái và thân hoả táng chôn cất ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn 八 宝 山. Nghĩa trang này trước đây là một miếu do hoàng đế Vĩnh Lạc 永 乐 nhà Minh xây để tưởng niệm quan thái giám Cương Bỉnh (Gang Bing, 刚 炳) đã tự « thiến » để phục tùng vua Vĩnh Lạc. Về sau, nơi này dùng để chôn cất các nàng hầu trong các cung phủ và các hoạn quan (thái giám).

Khi cộng sản lên nắm chính quyễn năm 1949, nghĩa trang nầy biến thành nghĩa trang « liệt sĩ cách mạng » dành chôn cất các lãnh tụ cộng sản. Lãnh tụ cuối cùng vừa được mai táng ở đây là nguyên chủ tịch Đảng Hoa Quốc Phong trong tháng 8-2008.

Năm 1995, bà quả phụ cuối cùng Lý Thục Hiền chuyển tro của Phổ Nghi đến nghĩa trang hoàng tộc cách Bắc Kinh 120 km. Mộ của Phổ Nghi nằm bên cạnh mộ vua Quang Tự.

V-Cuộc đời tình ái của Phổ Nghi

Cũng như cuộc đời chính trị, cuộc đời tình ái của Phổ Nghi gặp nhiều gian truân nghịch cảnh. Theo hồi ký của Phổ Nghi, ông ta không muốn lấy vợ sớm mà muốn tìm tòi học hỏi với người thầy người Anh RF.Johnston thậm chí muốn đi du học nước ngoài nhưng mỗi lần đều bị hoàng tộc ngăn cản vì sợ mất ưu đãi. Phổ Nghi đành phải lấy vợ vào lúc 16 tuổi.

Phổ Nghi tất cả có hai vợ chính thức và ba thứ phi không kể vô số tình nhân trong thời niên thiếu. Nhưng Phổ Nghi không có con với bất cứ người nào. Do đó, người ta phỏng đoán Phổ Nghi là người bất lực.

Ngoại trừ thứ phi Đàm Ngọc Linh bị Nhật ám hại chết sớm, Phổ Nghi sống không hạnh phúc với 4 người kia. Người vợ đầu là hoàng hậu Uyển Dung (婉 容, 1906-1946) cưới năm 1922. Trong thời gian ở Trường Xuân, hoàng hậu Uyển Dung nghiện thuốc phiện nặng và ngoại tình với một người hầu cận có một con năm 1935. Phổ Nghi trong cơn thịnh nộ quăng đứa con ngoại tình vào lò lửa. Uyển Dung sau đó bị bắt và chết trong tù năm 1946.

Người thứ phi thứ nhất là Văn Tú ( 文 绣, 1909-1953), ly hôn năm 1931. Thực ra, Phổ Nghi khi bắt buộc phải lấy vợ chọn Văn Tú làm hoàng hậu nhưng bị các thái hậu chê gia tộc Văn Tú thuộc hạng « nghèo », Phổ Nghi đành chọn Văn Tú làm thứ phi.

Người thứ phi thứ hai là Đàm Ngọc Linh (谭 玉 龄, 1920-1942) cưới năm 1937. Đặc tính của bà họ Đàm này là rất thù ghét Nhật và có tác dụng lớn với Phổ Nghi. Vì vậy, bà bị Nhật ám hại. Phổ Nghi sống với bà này trong 5 năm và thương yêu bà họ Đàm này nhất. Sau khi bà họ Đàm này chết, Phổ Nghi nâng cương vị bà lên hàng quí phi và sau đó hoàng tộc nâng lên hàng hoàng quí phi. Tương truyền, Phổ Nghi lúc nào cũng có tấm hình và thủ cảo do ông viết tay trong bóp. Thủ cảo viết : « Người yêu quí Ngọc Linh của tôi ».

Người thứ phi thứ ba là Lý Ngọc Cầm (李 玉 琴, 1928-2001) , một nữ sinh 15 tuổi do Nhật giới thiệu năm 1943, ly hôn tháng 5-1957. Việc hai lần ly hôn của Phổ Nghi là chuyện không bình thường trong thời phong kiến. Nhà vua có quyền « sa thải » các thứ phi chứ không có chuyện thứ phi xin ly hôn nhà vua.

Người vợ thứ hai và sau cùng là Lý Thục Hiền (李 淑 贤, 1925-1997), một nữ hộ sinh đã một lần dang dở, cưới năm 1962 do Châu Ân Lai giới thiệu.

VI-Anh em của Phổ Nghi

Vua Phổ Nghi có 3 em trai và 7 em gái, thứ tự như sau :

1-William Phổ Kiệt ( 溥 杰, 1907-1994) : cưới Hiro Saga, một người thuộc hoàng tộc xa với Nhật hoàng Hirohito và được phong làm hoàng thái tử, có 2 gái.

2-Uẩn Anh (韫 媖, 1909-1925) : không con.

3-Uẩn Hoà (韫 和, 1911-2001) : lấy Trịnh Quảng Nguyên 郑 广 元, có ba gái.

4-Uẩn Dĩnh (韫 颖, 1913-1992) : lấy Quách Hy La 郭 希 罗, có 2 trai, 1 gái.

5-Uẩn Nhàn (韫 娴, 1914-2003) : lấy Triệu Cũng Dao 赵 珙 瑶, có 1 trai, 1 gái.

6-Phổ Cụ (溥 俱, 1915-1918) : chết sớm.

7-Uẩn Hinh (韫 馨, 1917-1998) : lấy Vạn Gia Hy 万 嘉 熙, có 3 trai, 1gái.

8-Phổ Nhiệm (溥 任, 1918- ) : cưới Kim Du Đình 金 瑜 庭, có 3 trai, 2 gái.

9-Uẩn Ngu (韫 娱, 1919-1982) : lấy Vương Ái Lan 王 爱 兰, có 1 trai, 4 gái.

10-Uẩn Hoan (韫 欢, 1921-2005) : lấy Kiều Hoằng Trị 乔 宏 治, có 2 trai, 1 gái.

Người Nhật biết Phổ Nghi không thể có con nên có dụng ý để Phổ Kiệt cưới Hiro Saga, một người thuộc hoàng tộc Nhật. Con của Phổ Kiệt có nửa dòng máu Nhật sau này sẽ lên nối ngôi Phổ Nghi. Điều không may là 2 con của Phổ Kiệt toàn là gái và triều đại cũng sụp đổ theo khi Nhật bại trận.

Phụ lục:

Bản gia phả trị vì của nhà Thanh

1-AG Thế tổ Thuận Trị, 顺 治,                         1643-1661

2-AG Thánh tổ Khang Hy, 康 熙,                    1661-1722

3-AG Thế tông Ung Chính, 雍 正,                    1722-1735

4-AG Cao tông Càn Long, 乾 龙,                    1735-1796

5-AG Nhân tông Gia Khánh, 嘉 庆,                 1796-1820

6-AG Tuyên tông Đạo Quang, 道 光                1820-1850

7-AG Văn tông Hàm Phong, 咸 丰                  1850-1861

8-AG Mục tông Đồng Trị, 同 治                      1861-1875

9-AG Đức tông Quang Tự, 光 绪                    1875-1908

10-AG Tuyên thống Phổ Nghi, 溥 仪               1908-1912.

  • AG là Aisin Gioro hay Ái Tân Giác La,
  • Những năm trên là năm trị vì.
Văn Tú (thứ 3 từ trái) và Uyển Dung (thứ 5) cùng các em gái Phổ Nghi chụp ảnh ở Công Sứ quán Nhật ở Bắc Kinh năm 1924 - Ảnh do tác giả Nguyễn Phụng cung cấp

Thứ phi Văn Tú (thứ 3 từ trái) và hoàng hậu Uyển Dung (thứ 5) cùng các em gái Phổ Nghi chụp ảnh ở Công Sứ quán Nhật ở Bắc Kinh năm 1924 – Ảnh do tác giả Nguyễn Phụng cung cấp

Chú thích:

[1] Từ năm 1917 đến năm 1924, xứ Trung Hoa có đến 5 tổng thống như sau : Lê Nguyên Hồng, năm 1917, Phùng Quốc Chương (冯 国 璋, 1859-1919) năm 1917-1918, Từ Thế Xương (徐 世 昌, 1854-1939) từ 9-1918 đến 6-1922, Lê Nguyên Hồng từ 6-1922 đến 6-1923 (lần thứ 2) và Tào Côn (曹 锟,1862-1938) từ 6-1923 đến 11-1924.

Tài liệu tham khảo

-Précis d’histoire de Chine , NXB Ngoại ngữ Bắc Kinh do Bạch Thủ Di (Bai Shouyi) điều khiển, 1988, 535 trang.

-Pu-Yi ; J’étais empereur de Chine, NXB Flammarion, bộ sưu tập J’ai lu, 1975, 593 trang.

– Các trang mạng Trung Quốc viết về Phổ Nghi.

-Đài Arte Pháp chiếu phim về Phổ Nghi ngày 29-4-2009.