Phật tính trong một dòng nhạc (multimedia)

Phật tính trong một dòng nhạc

© Mathilde Tuyết Trần, France 2010

Tôi sẽ không viết về một người nhạc sĩ trên phương diện phê bình nghệ thuật âm nhạc, một điều, nếu có cố tình muốn cũng chỉ là múa rìu qua mắt thợ. Công việc phê bình đã có người khác đảm trách.

Tôi sẽ viết về anh trên bình diện „cảm tính“. Cảm tính không có gì xấu xa và tiêu cực như nhiều người lầm tưởng. Người Đức có câu thành ngữ „Con cá thúi từ cái đầu thúi ra“ (Der Fisch stinkt vom Kopf) mang nhiều nghĩa bóng. Cái đầu là nơi tính toán, cân nhắc, suy nghĩ…nơi mà nhiều tĩnh từ thâm hiểm, độc đoán, ích kỷ, lầm lẫn, sai lạc, tàn nhẫn….được gán cho. Cảm tính xuất phát từ trái tim, và rộng hơn, từ cái bụng. Cái bụng không biết nói dối. Thương để bụng, chứ không ai thương để đầu.

Văn xuôi có chuyên chở được âm thanh hay không ? tôi sẽ cố gắng.

Kỹ thuật của một nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, văn thơ…trong trường hợp này là nhạc, của một người nhạc sĩ, chỉ là một công cụ, một khí giới để chuyên chở tình cảm và mong ước, giống như ngón tay chỉ trăng của Phật, ngón tay chỉ ta nhìn lên mặt trăng, rồi mỗi người, từ vị trí của đời mình, từ cách nhìn đời của riêng mình, nhìn lên mặt trăng từ nhiều góc khác nhau, thấy hình ảnh „trăng“ một cách khác nhau, dù đó chỉ là một „ông“ trăng. Trăng và ánh trăng, là hai việc khác biệt, nhưng cùng mang một triết lý Phật giáo, trăng chỉ có một, nhưng có muôn vàn vô cực ánh trăng.

Ánh trăng của Phạm Mỹ Lộc là một ánh trăng mang nhiều luồng cảm tính, nhiều dòng nước trôi trong đời anh, nhiều tâm sự, nhiều đa mang và nhiều duyên nợ. Một ánh trăng nghệ sĩ. Thật đó, người nghệ sĩ không thể là một người vô tư, không lo lắng, không ưu sầu, không ham muốn, chỉ loanh quanh trong nhu cầu của thân xác, ăn rồi ngủ, ngủ rồi ăn. Cái tham sân si của người nghệ sĩ thôi thúc người ấy luôn phải đi tìm nhiều cảm tính của hôm qua, hôm nay và ngày mai, nối duyên với nợ, biến nợ chỉ thành duyên.

Không trọn vẹn. Đó cũng là ánh trăng của Phạm Mỹ Lộc. Những dòng nhạc tình của anh toát ra một sự không trọn vẹn, bởi ngăn cách và xa cách, bởi cản trở và ý muốn.

„…người đâu hỡi người ơi, ngày vui trôi qua mau, chiều đi nắng tắt sương rơi rơi buồn…“.(Nhị Hồ)

Ở Phạm Mỹ Lộc tôi thấy hai con người, một người rất thực tế và một người rất lãng mạn, như hai cánh tay, tay phải, tay trái. Anh có một đời sống êm đềm thong thả hạnh phúc, nhưng anh cũng có một đời sống khát khao, hối hả, đầy nuối tiếc. Trong nhạc có hai phần chuyên chở, dòng nhạc và dòng thơ (lời), vì người nhạc sĩ luôn luôn là một thi sĩ. „Nhạc và lời của…“, người nghe, trước khi nhớ nhạc, đã phải thuộc lời mới hát lên được bản nhạc. Dòng nhạc của Phạm Mỹ Lộc đem đến người nghe một liên tưởng giữa Âu và Á. Người nghe dòng nhạc như đi du ngoạn từ Á sang Âu, từ Âu sang Á, lời nhạc là một sự nối kết. Anh để cho người nghe bắt được một tâm sự buồn buồn, nhưng không pathologique thảm thiết, một cảm giác mang mang, mênh mông, nhưng không bị bắt cóc trong một khung trời eo hẹp. Có điều gì đó lưng lửng, chơi vơi.

Trong âm điệu của anh tôi bắt gặp phong cách như của Francis Lai, Love Story, nhẹ nhàng, thanh thoát, rất Âu châu. Đồng thời những chỗ luyến láy rất Việt Nam „Đêm giã từ Hà Nội lòng còn vương vấn nhiều đắm say… „ (Đêm giã từ Hà Nội).

Theo ý riêng của tôi, bản nhạc „Quê Hương Tuổi Nhỏ“ là một tiêu biểu sáng tác của Phạm Mỹ Lộc qua giọng hát của Trần Thu Hà. Giọng hát người ca sĩ ấy điêu luyện với một chất giọng dễ thương, cộng thêm một cách phát âm rất đặc biệt, nghe là nhận ra ngay người hát. Không đúng. Phải nói là „biểu diễn“ thì đúng hơn, vì Trần Thu Hà đã lột tả được tâm sự của người viết, Phạm Mỹ Lộc, nghe rất chơi vơi, lung linh…“Chiều cô thôn nổi gió, cánh áo lụa bay…Lửa đỏ môi cơm thơm gọi mãi em ở đâu ? mà chỉ thấy hư vô giăng mắc bốn bề, hư vô…“

Không biết những người sống gần anh dài lâu, có dịp gặp gỡ anh nhiều, nhìn anh ra sao. Qua vài kỷ niệm với anh, tôi thấy anh là một người tế nhị, ân cần, lưu loát nhưng biết dừng lại ở một ranh giới nào đó.

Cái ân cần ấy, cái tế nhị ấy cũng tỏa lên bởi những câu nhạc, một câu chuyện tình, mà qua đó, anh thể hiện một bố cục kết thúc thật bất ngờ „….Người yêu hỡi, dù tình ta không hẹn trước, muôn đời chờ nhau….em đến từ đâu hỡi em, thôi thế thì ta với em về đây, trăng tan. Em là người thương.“ (Trăng Hạ Long)

Yêu và thương khác nhau ở chỗ nào ? Một người bạn nhạc sĩ khác của tôi, đồng lứa, đã một lần nhấn mạnh, thưở ấy chưa ai biết yêu, chỉ biết thương.

À ra thế. Đầu thế kỷ thứ hai mươi, những người „yêu“ nhau, còn không dám nói lên một chữ „thương“. Cái thưở cha mẹ chúng ta đặt đâu ngồi đấy thì chỉ dám nói „ phải lòng nhau“ hay „mến nhau“ mà thôi, còn hơn là đứng nhìn nhau sững sờ, không thốt lên được một tiếng nào. Dịu dàng nhìn anh em nói mến anh (Nắng chiều, Lê Trọng Nguyễn). „Yêu“ mang tính chất xác thịt, yêu chứa đựng dục tính của hai người yêu nhau, da chạm da, môi chạm môi. Thương thì bao la hơn, mênh mông hơn, trong sáng hơn…Yêu một người nhưng thương nhiều người. Tại sao không ? đó cũng là một Phật tính.

Thời anh Lộc hai mươi, là thời ảnh hưởng của phong trào văn thơ lãng mạn tiền chiến (Tự Lực Văn Đoàn), của Bướm Trắng, của Đôi Bạn…của Hồ Dzếnh, tình yêu còn là một tình yêu „platonique“, yêu vì tinh thần, chưa yêu bằng xác thịt. Một trạng thái lơ lửng giữa thương và yêu. Vả lại thời ấy, „con nhà nề nếp tiểu tư sản“, chỉ mới hẹn nhau đi ăn kem, đi nghe nhạc… , đã bị lên án lăng loàn, vô đạo đức, „Nó đi với trai!“. Có lẽ „vô đạo đức“ thật, vì lén cha lén mẹ nói dối đi ăn kem với bạn, thật ra là đi ăn kem với „trai“. Phạm Mỹ Lộc lại không mời „bạn gái“ đi ăn kem, mà đi ăn xôi chè. Thật đấy, chè hạt sen và xôi vò. Đó là cái gốc Bắc của anh.

Nhớ.

Một chữ rất diệu kỳ. Nhớ ai, tim đập thổn thức. Người được nhớ không biết không hay, nhưng người nhớ thì như có ngàn bướm bay trong bụng.

Trong dòng nhạc tình của Phạm Mỹ Lộc, kèm chữ thương còn có chữ nhớ, bởi thế nên không trọn vẹn, có duyên không nợ, có nợ không duyên…Nếu có duyên có nợ thì khi trả xong hết nợ cũng là hết duyên. Không còn nhân quả với nhau nữa. Lại cũng là một Phật tính. Điểm này, Phạm Mỹ Lộc đi chung một thuyền với nhiều nghệ sĩ khác, và tôi hiểu anh, khi anh luôn trên đường tìm kiếm ý nhạc mới. Không có thêm ý nhạc, không có thêm ý thơ, người nghệ sĩ sẽ chết. Cái thêm ấy ở đâu mà có ?

Đó là những món quà của đời tặng cho, bỗng nhiên, bất chợt, gặp nó, thấy nó, vói lấy nó, giữ lấy nó…Cuộc đời không cho không ai gì cả, có qua có lại mới toại lòng nhau. Không ai có một cuộc đời là một quà tặng tuyệt đỉnh. Được cái này, mất cái kia, có cái này, không có cái kia, như âm và dương, như yin và yang, như một sự cân bằng của tạo hóa, như cụ Nguyễn Du đã viết „chữ tài liền với chữ tai một vần“. Chữ „tai“ đó là cái giá người nghệ sĩ phải trả cho những món quà tặng của đời. Tham sân si bị dừng bởi tai ương. Cũng là nhân quả nhà Phật.

Trong nhạc của anh, những cái băn khoăn về những mối tình đứt đoạn, được tô điểm bằng hình ảnh của nắng và chiều. Bài hát „Hoa Nắng“ là một bài hát dễ thương, nhẹ nhàng, subtile (tinh tế), có tính chất chanson của Pháp kèm theo cái luyến láy Việt Nam „…chờ em mặt trời khép mi ngủ yên…“, Hà Bích Hợp hát Hoa Nắng rất nũng nịu, quyến rũ. Hai bài viết cho piano Ảo Mơ và Di Chúc Họa Mi có giai điệu trữ tình, trìu mến, dễ thấm, tiếc là chưa có lời nhạc để trở thành những bản nhạc hay, nổi tiếng.

Phạm Mỹ Lộc có nhiều thành công nghề nghiệp và âm nhạc phía bên kia bờ Đại Tây Dương, nhưng bên bờ ni thì có lẽ còn ít người biết. Sinh năm 1947, quê ở Nam Định, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 lúc lên bẩy, anh hiện nay vừa là luật sư vừa là nhạc sĩ, vừa ngao du bốn biển, vừa đang nghĩ rằng, màn cuối của cuộc đời còn phải đi cho trọn vẹn.

MTT có hân hạnh được mời các bạn thưởng thức bản nhạc Quê Hương Tuổi Nhỏ, nhạc và lời của Phạm Mỹ Lộc, biểu diễn bởi giọng hát Trần Thu Hà, một giọng hát rất thanh thoát, truyền cảm, điêu luyện, và tiếng đàn guitare của nhạc sĩ Phạm Mỹ Lộc: (bấm vào tam giác bên góc trái để bật nhạc lên và nhớ bật loa để nghe !)