Đỉnh vạc đồng của họ Nguyễn

Đỉnh vạc đồng của họ Nguyễn

©Phan Thanh Hải, Huế 2003

Đó là hơn 30 chiếc đỉnh, vạc đồng độc đáo hiện còn tại đất Cố đô, được tạo nên trong một quá trình lịch sử dài khoảng 300 năm, gắn liền với sự hưng phát của dòng họ Nguyễn. Tất cả những chiếc đỉnh, vạc này đều là bảo vật của Huế, thậm chí còn xứng đáng được xếp vào hàng bảo vật quốc gia. Mỗi chiếc đỉnh đều là một tác phẩm nghệ thuật thật sự, thể hiện trình độ kỹ thuật và mỹ thuật tuyệt vời của người thợ xứ Huế. Và điều đáng nói nữa là, xung quanh sự ra đời của những chiếc đỉnh, vạc trên đều gắn liền với giai thoại lịch sử hoặc những huyền thoại lạ lùng.

Thực ra, chúng tôi không phải là người đầu tiên đề cập đến những chiếc đỉnh chiếc vạc đồng của họ Nguyễn. Năm1921, Chánh mật thám Trung Kỳ L.Sogny đã có một bài khảo cứu khá hayvề 6 chiếc vạc thời các chúa Nguyễn; gần đây, Hồ Vĩnh cũng có một bài thống kê về 10 chiếc vạc thời kỳ này. Bài viết đề cập đến Cửu đỉnh đúc thời Minh Mạng cũng có khá nhiều. Nhưng tựu trung chưa có một sự khảo cứu và thống kê đầy đủ nào về tất cả đỉnh, vạc đồng của họ Nguyễn tại Huế. Là người đi sau, chúng tôi chỉ mong muốn bổ sung và hoàn thiện công việc này.

ĐỉNH ĐồNG THờI NGUYễN

Khác với vạc đồng, những đỉnh đồng có chân còn lại hiện nay đều có niên đại trong thời Nguyễn (1802-1945), trong đó chủ yếu là thời Minh Mạng. Theo thống kê của chúng tôi, tại Huế hiện còn 18 chiếc đỉnh đồng. Tất cả những chiếc đỉnh này đều rất đẹp. Ngoài bộ Cửu đỉnh đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập và chiếc Khắc Xưng Từ đỉnh đã được nhà nghiên cứu Phan Thuận An giới thiệu, các chiếc đỉnh còn lại hầu như chưa thấy ai nói đến. Căn cứ theo kiểu dáng, hình thức đỉnh, chúng tôi tạm chia thành 2 loại: đỉnh tròn 3 chân và đỉnh hình chữ nhật 4 chân. Hiện trong số 18 chiếc đỉnh có 14 chiếc đỉnh tròn và 4 chiếc hình chữ nhật.

I.ĐỉNH TRòN

I.1.Cửu Đỉnh:  Cửu Đỉnh là 9 chiếc đỉnh đồng to lớn đúc dưới thời Minh Mạng, hiện vẫn đặt trước sân toà Thế Tổ Miếu trong Đại Nội. Có thể xem đây là những tác phẩm đạt đến độ hoàn mỹ của nghệ thuật đúc đồng truyền thống Huế và của cả Việt Nam trong lịch sử.

Từ mong muốn “tạo nên những của báu cho ngàn đời”, đồng thời cũng là để biểu trưng cho sự hùng mạnh, thống nhất của đất nước, sự trường tồn của dòng họ, vua Minh Mạng đã cho đúc 9 chiếc đỉnh to lớn này vào năm 1835. Trên 20.000 kg đồng, chì, kẽm đã được huy động để phục vụ cho công việc trên và sau khoảng một năm đã thu được kết quả mỹ mãn. Chín chiếc đỉnh đồng được tạo dáng tuyệt đẹp, vừa hùng vỹ vừa thanh thoát, lại có cá tính rất riêng với cách tạo hình hoàn toàn không trùng lặp: các bộ quai, chân cùng các mô típ trang trí trên thân đều khác biệt.

Đầu năm 1837, Cửu đỉnh được đem đặt ở phía trước Thế Miếu, ứng với 9 gian thờ của tòa miếu quan trọng bậc nhất của họ Nguyễn trong Hoàng Thành, và chúng vẫn còn nguyên vẹn đến tận ngày nay. Có thể khẳng định đây là những chiếc đỉnh lớn và đẹp nhất của nước ta từ xưa đến nay. Mỗi chiếc đều cao khoảng từ 2,3-2,5 m; chiếc nhỏ nhất cũng nặng hơn 3.200 cân, chiếc lớn nhất thì nặng đến hơn 4.300 cân.

Điều đặc biệt là trên thân các chiếc đỉnh này, ngoài các dòng chữ Hán chú về niên đại, trọng lượng và tên đỉnh còn có chạm nổi hình tượng của núi sông, văn vật nước Đại Nam trong thế kỷ XIX kèm theo tên gọi cụ thể (bằng chữ Hán). Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng, 153 hình nhỏ chạm nổi trên Cửu đỉnh (mỗi đỉnh có 17 hình nhỏ) là một bộ Đại Nam nhất thống chí bằng đồng vô cùng độc đáo của dân tộc ta dưới thời vua Minh Mạng, không chỉ thể hiện sự tài hoa khéo léo tuyệt vời của những người thợ đúc đồng mà còn thể hiện lòng tự hào dân tộc vô bờ bến về một đất nước Đại Nam hùng cường và giàu có. Ngay cả nhiều người Trung Quốc và Đài loan khi đến thăm Huế cũng thừa nhận, đây là bộ Cửu đỉnh đẹp nhất họ đã từng trông thấy!

I.2. Chiếc đỉnh tại phủ Kiên Thái Vương

ở Huế có câu ca dao rất nổi tiếng:

“Một nhà sinh được ba vua,

Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài”

Nhà ấy là nhà Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai, em vua Tự Đức. Kiên Thái Vương có 3 người con, đều lần lượt được làm vua, là Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh. Thật là một điều hi hữu trong lịch sử!

Dòng Kiên Thái có một chiếc đỉnh lớn đúc từ thời Minh Mạng (trên thân đỉnh có ghi rõ Minh Mạng niên chú). Năm 1888, dưới thời vua Đồng Khánh, chiếc đỉnh này được dâng tặng Kiên Thái Vương. Hiện nay, chiếc đỉnh trên được đặt trong phủ Kiên Thái Vương (hay Nội Từ), ngay phía sau chiếc bình phong tiền của nhà thờ chính. Điều đáng chú ý là trên thân đỉnh có khắc những dòng chữ giống hệt các dòng chữ trên chiếc bia đá đặt ở phía trước, bên tả Thiên Thành Cục (tức lăng của Kiên Thái Vương).

Nguyên văn:

“Sùng đức báo ân Đồng Khánh, Kiến Phúc, Hàm Nghi tam đế cung tặng Kiến Thái Vương, thụy Thuần Nghị Vạn Niên Thiên Thành Cục. Thượng tuế thứ Mậu Tý quý xuân phụng chỉ khâm khắc”.

Đỉnh cao 172 cm kể cả tai, chu vi vòng thân là 304 (tức đường kính khoảng 96,5 cm), trọng lượng 1.041 cân. Trên thân đỉnh không trang trí, trừ di quanh cổ có điểm các cụm chấm hình tròn, mỗi cụm 5 chấm. Hai quai đỉnh kiểu hình khối vuông, được tạo dáng khá đứng, quai cao 27,5 cm. Ba chân được làm kiểu 3 cạnh không trang trí, hai cạnh mặt ngoài thẳng góc, cạnh mặt trong uốn tròn. Về mặt mỹ thuật, có thể xem chiếc đỉnh này là khá đơn gin, nhưng nó lại chứa đựng những giá trị lịch sử độc đáo về dòng họ Nguyễn và của cả Huế thời Cận đại.

I.3.Đôi đỉnh đồng dưới thời Thành Thái

Đây là hai chiếc đỉnh gần như giống nhau về kích thước, kiểu dáng, hiện 1 chiếc được đặt trước nhà hát Duyệt Thị Đường, 1 chiếc đặt trước toà Thị chính Thành phố Huế (UBND Thành phố Huế).

Căn cứ vào một số nh tư liệu và kí ức của những nhân chứng tại Huế hiện nay, chiếc đặt ở toà Thị chính Thành phố Huế trước đây đặt phía trước tòa Cơ Mật Viện (nay thường gọi là Tam Tòa), còn chiếc đặt trước Duyệt Thị Đường hiện nay vốn được đặt trước tòa Ngự Tiền Văn Phòng, bên tả lầu Kiến Trung trong Tử Cấm Thành, nhưng không rõ chúng bị dịch chuyển vị trí từ thời kỳ nào (?).

Hai chiếc đỉnh này được tạo dáng khá đơn giản, hình thức gần giống như chiếc đỉnh đặt ở phủ thờ Kiên Thái Vương nhưng kích thước nhỏ hơn và trong có vẻ cân đối, thanh nhã hơn. Toàn bộ thân đỉnh để trơn, không chạm trổ hoa văn; quai đỉnh kiểu khối vuông chữ nhật, chân 3 cạnh kiểu thức tưng tự như chiếc đỉnh ở phủ Kiên Thái Vương. Gần phía miệng đỉnh cả 2 chiếc đều có khắc 2 dòng chữ “ Thành Thái thập nhất niên trọng xuân chi cát” (Ngày tốt tháng Hai năm Thành Thái thứ 11, tức năm 1899) và “Công Bộ phụng giám chú” (Bộ Công phụng mệnh vua giám sát việc đúc đỉnh). Tuy nhiên không có dòng chữ nào cho biết trọng lượng của 2 chiếc đỉnh này.

Chiếc đỉnh đặt trước nhà hát Duyệt Thị Đường cao 174 cm kể cả quai, trong đó chân cao 76 cm; chu vi vòng thân là 320 cm. Chiếc đỉnh đặt trước tòa Thị chính Huế thì cao hơn 2cm (tức 176 cm), trong đó chân cao 78 cm; chu vi vòng thân là 322 cm. Theo ước đoán của chúng tôi, cả 2 chiếc đỉnh này đều phi phi nặng trên 1.000 cân (ta) do chúng đều có kích thước lớn hơn chiếc đỉnh đặt tại phủ Kiên Thái Vương.

I.4.Đỉnh đồng thời Khải Định

Đây là chiếc đỉnh đồng có niên đại muộn nhất của triều Nguyễn mà chúng tôi thống kê được, hiện được đặt trong khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế. Đỉnh mang tên Xuân Thu Thịnh Đỉnh, đúc năm 1924, nhân lễ Tứ tuần Đại khánh (mừng thọ 40 tuổi) của vua Khải Định. Điều độc đáo là, chiếc đỉnh này do những công chức người Việt làm trong các công sở của người Pháp tại Trung Kỳ góp tiền đúc tặng. Trên thân đỉnh có ghi rõ điều này: “Khi Định cửu niên cửu nguyệt s nhất nhật cung ngộ Tứ Tuần Đại Khánh Tiết, tòng sự Trung Kỳ Bảo hộ sứ tòa Công chánh, Hỏa xa, Y chánh, Thưng chánh, Ngân khố, Điện báo, Nông chánh, Y thú, Lâm chánh thần đẳng cung tiến” (Ngày mồng 1 tháng 9 năm Khi Định thứ 9, kính gặp lễ Tứ Tuần Đại Khánh, bọn chúng thần ở các cơ quan Công chánh, Hỏa xa, Y chánh, Thương chánh, Ngân khố, Điện báo, Nông chánh, Thú y, Lâm chánh, thuộc tòa Bảo hộ sứ Trung Kỳ kính cẩn dâng tặng (đỉnh này).

Theo tác giả H.Délétie trong một bài viết mô tả về Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định đăng trên tập san B.A.V.H, số 2 năm 1925, thì chiếc đỉnh này được đúc tại Trường Canh Nông Huế (tức trường Đại học Nông Lâm Huế hiện nay).

Những bức ảnh chụp về lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định của cho thấy, chiếc đỉnh này đã được đặt trong tòa nhà lớn dựng tạm trước quảng trường Ngọ môn để phụ vụ đại lễ. Sau đó nó được chuyển về đặt trước sân tòa Tôn Nhân Phủ, sau năm 1975 mới được chuyển về Bảo tàng Cổ vật Huế.  Hiện tại đỉnh đã bị mất 2 quai nên không rõ kiểu dáng và cách thức trang trí ở bộ phận này. Còn ở thân đỉnh thì được trang trí rất công phu bằng những văn tự và hình ảnh trang trí nổi. Đẹp nhất có lẽ là hình ảnh các đôi rồng chầu quanh 4 chữ  Xuân -Thu -Thịnh -Đỉnh, đặt ở 4 mặt thẳng hàng, tạo thành một vòng trên thân đỉnh (xem ảnh). Mỗi đôi rồng đều tạo thành 1 vòng tròn, đuôi giáp nhau phía dưới, đầu vươn về chầu một hình mặt trời có ánh lửa bốc cao, trông hết sức sinh động.

Ở khoảng giữa 4 chữ tên đỉnh là 4 mảng trang trí bằng văn tự, mỗi mảng gồm 2 ô hình thoi xếp kề nhau, mỗi ô khắc nổi 4 chữ Hán theo kiểu chữ triện. Cách trang trí này trông khá lạ mắt và hầu như chưa gặp trong các mô típ trang trí trên đồ đồng thời Nguyễn. Phần phía trên và phía dưới thân đều có các di trang trí hình kỹ hà, vòng theo thân đỉnh. Chân đỉnh cũng được trang trí công phu, phần giáp vào thân tạo hình một mặt rồng ngonh ra, miệng rồng ngậm chữ Thọ cách điệu.

Nhìn chung, đây là một chiếc đỉnh không lớn lắm nhưng được trang trí rất công phu, đúng “gu” thẩm mỹ của vua Khải Định. Đỉnh cao 122 cm tính từ chân đến miệng, trong đó chân cao 67 cm. Đường kính miệng đỉnh là 76,5 cm, chu vi vùng thân ni lớn nhất là 302 cm (tức đường kính khoảng 96,2 cm).

II.ĐỉNH HìNH CHữ NHậT

Thực ra khái niệm đỉnh hình chữ nhật cũng chỉ là tương đối vì có chiếc mang hình dáng gần như vuông. Loại đỉnh này cũng có 2 quai như đỉnh tròn nhưng lại có đến 4 chân bố trí song song với nhau như kiểu chân bàn, chân sập quỳ. Cả 4 chiếc đỉnh đồng hình chữ nhật mà chúng tôi kho sát đều là những chiếc đỉnh dùng để đốt vàng mã sau khi cúng kỵ. Người Huế thường gọi chúng là những chiếc lư; sử liệu triều Nguyễn đôi khi còn gọi chúng là Liệu lô ?????? (thường dịch là cái lò thiêu) nhưng thực tế chúng phi được gọi là đỉnh mới chính xác. Trong 4 chiếc đỉnh này thì 2 chiếc đang đặt tại khu vực Triệu-Thái Miếu, 1 chiếc đặt trước điện Long An và chiếc còn lại được đặt trước điện Hoà Khiêm (lăng Tự Đức).

II.1. Đỉnh tại Triệu Miếu

Đây là một chiếc đỉnh tuyệt đẹp tuy đã bị mất 2 quai. Hiện đỉnh được đặt ngay trước sân toà Triệu Tổ Miếu, trong Hoàng Thành. Đỉnh cao 105 cm, tính từ chân đến miệng. Hai mặt có gắn quai đặt theo hướng Bắc-Nam, mỗi mặt đều đúc nổi hình đôi chim phụng đang chầu 1 đồng tiền. Hai mặt Đông-Tây đều đúc nổi hình rồng ngang, dáng vẻ hùng dũng oai vệ. Phần miệng đỉnh có đai hình chữ nhật bao quanh. Đai cao 9 cm, kích thước 90 cm x 72 cm, được trang trí khá công phu. Phần trong lòng miệng đỉnh hình chữ nhật, kích thước 68 cm x 48 cm. Phần thân đỉnh có chiều cao khoảng 45 cm, bên ngoài ở 4 góc có 4 thanh trụ gắn từ đầu chân đến đai miệng đỉnh, tức có chiều cao tương đương với thân đỉnh. Các trụ đồng này được đúc nổi hình rồng mây kiểu long vân thuỷ ba rất đẹp. đáng tiếc là 1 trụ hiện đã mất. Bốn chân đỉnh hi choãi ra, cao gần 52 cm; phần gắn vào thân tạo hình mặt rồng hướng ra ngoài; phần cuối  chân cũng tạo hình như chân rồng với 5 móng. Mặt phía đông có 2 dòng chữ Hán đề niên đại và trọng lượng đỉnh. Chiếc đỉnh này đúc năm Tự Đức 29 (1876), nặng 724 cân.

II.2. Đỉnh tại Thái Miếu

Cũng như chiếc đỉnh đặt tại Triệu Miếu, chiếc đỉnh đặt trước toà Thái Miếu (chếch về bên trái) cũng được đúc vào năm 1876, nhưng đây là chiếc đỉnh đã được “cải chú” (đúc lại) với hai quai và phần đai bao quanh miệng làm bằng chất liệu gang. Phần thân và 4 chân vẫn đúc bằng đồng với kiểu dáng tưng tự chiếc đỉnh ở Triệu Miếu nhưng không tinh tế bằng. Kích thước chiếc đỉnh này tưng đưng với chiếc đỉnh đặt ở Triệu Miếu: Phần đai quanh miệng là 91 cm x 70 cm, trong lòng là 74 cm x 52 cm, thân đỉnh cao 48 cm, chiều cao tính đến miệng là 107 cm, chiều cao kể cả quai là 146 cm. Điểm khác biệt về trang trí giữa chiếc đỉnh này và chiếc đặt tại Triệu Miếu chủ yếu là ở thân đỉnh. Hai mặt lớn theo chiều Đông-Tây đúc nổi hình long mã chứ không phi mặt rồng ngang. Hai quai đỉnh dù đúc bằng gang nhưng được trang trí rất công phu, đặc biệt là hình đôi rồng ở mặt trong quai được thể hiện theo thế đối xứng nhau rất sinh động. Trọng lượng (chỉ tính phần chất liệu đồng) của chiếc đỉnh này lớn hn chiếc đặt tại Triệu Miếu khá nhiều, nó nặng đến 892 cân.

II.3. Đỉnh tại lăng Tự Đức

Đây là chiếc đỉnh đặt ở chính giữa sân điện Hoà Khiêm, làm tâm đối xứng cho 4 chiếc vạc đồng mà chúng tôi đã đề cập. Đỉnh không đề năm đúc, chỉ đề trọng lượng là 493 cân. Miệng đỉnh hình chữ nhật, có đai dày 5 cm; kích thước miệng kể cả đai là 79 cm x 58,5 cm. Toàn bộ chiều cao của đỉnh là 153 cm, trong đó chân cao 49 cm, thân cao 47 cm. Toàn bộ đỉnh đúc đồng nhưng đã xuất hiện những con bu-lông bằng gang gắn quai với thân đỉnh.

Căn cứ vào kiểu dáng và kích thước của chiếc đỉnh này, chúng tôi cho rằng, nó được đúc muộn hơn 2 chiếc đỉnh đặt tại Thái Miếu và Triệu Miếu, tức là khoảng cuối thời Tự Đức hoặc có thể muộn hơn. Chiếc đỉnh này hoàn toàn không có những hình đúc nổi trang trí. Chân đỉnh kiểu 3 cạnh nhưng mặt trong lõm. Bốn chân được đặt trên 4 viên đá thành hình chữ nhật. Có lẽ trong các chiếc đỉnh cùng loại, đây là chiếc đỉnh gin nhất.

II.4. Khắc Xưng Từ Đỉnh tại Bảo tàng MTCĐ Huế

Đây là chiếc đỉnh có số phận trôi nổi lạ lùng mà nhà nghiên cứu Phan Thuận An đề cập đến trong một bài viết khá thú vị (9). Bản thân chiếc đỉnh này không phải của vương triều mà của riêng một dòng họ – Phòng 8, Hệ 7 thuộc Tôn Thất. Đỉnh do ông Tôn Thất Đn đúc năm Tự Đức Đinh Tỵ (1857) để đặt tại nhà thờ dòng họ – gọi là Khắc Xưng Từ, vốn được dựng từ thế kỷ XVIII tại làng Hưng Cần, huyện Hưng Trà. Đỉnh nặng 200 cân, cao 139 cm, trong đó quai cao 35 cm, chân cao 54 cm. Thân đỉnh hình chữ nhật, kích thước miệng là 73 cm x 57 cm. Toàn bộ phần thân, quai và cả chân đều được trang trí công phu bằng các hình đúc nổi và văn tự chữ Hán. Bốn chữ Hán khắc tên đỉnh đặt ở mặt trước của phần thân, kiểu chữ triện. Có thể nói đây là một trong những chiếc đỉnh bốn chân đẹp nhất của Huế hiện nay. Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, năm 1874, khi Tôn Thất Đn phạm tội và bị tịch biên gia sản, chiếc đỉnh này đã được chuyển từ nhà thờ Khắc Xưng về kho của phủ Nội Vụ; khoảng năm 1920, được sự đồng ý của Nam triều, Hội Đô Thành Hiếu Cổ mới đem nó ra trưng bày ở trước sân điện Long An.

Trên đây là 31 chiếc đỉnh, vạc đồng của họ Nguyễn hiện còn trên đất Cố đô. Chắc chắn là ngày xưa, Huế không chỉ có chừng ấy đỉnh vạc đồng, mà có thể là nhiều hơn rất nhiều. Nhưng dù sao, với số lượng hơn 30 chiếc đỉnh vạc còn lại, Huế cũng có thể tự hào là ni có được số bảo vật thuộc loại này phong phú nhất. Và như trên chúng tôi đã khẳng định, các đỉnh vạc trên đều xứng đáng xếp vào hàng bảo vật của quốc gia. Những ai quan tâm đến nghề đúc đồng và mỹ thuật trên đồ đồng của cha ông, khi đến Huế, được chiêm ngưỡng sưu tập đỉnh vạc này chắc cũng đủ cảm thấy thỏa mãn!

Huế, tháng 12-2003 – P.T.H (Phó Giám Đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế)

Chú thích:

(1). Từ Hi, Thượng Hi từ Thư Xuất Bn X•. Thượng Hi, 1989. Quyển Hạ (Bộ 3 quyển). Trang 5985.

(2). Từ Hi, Thượng Hi từ Thư Xuất Bn X•. Sđd, tr 4516.

(3). Nguyễn Quang Xỹ & Vũ Văn Kính, Tự điển chữ Nôm. Trung tâm Học liệu, 1971. Tr 808.

(4). Anthony Trần Văn Kiệm, Giúp đọc Hán và Nôm. Bn in tại Mỹ, 1997. Tr.923

(5). Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt. Viện Ngôn ngữ. Nxb Đà Nẵng, 1996. Tr 1056.

(6). Thực ra, khi kiểm tra toàn bộ lịch Việt Nam xưa nay (từ năm 0 đến năm 2000) chúng tôi hoàn toàn không tìm được năm Tân Mùi nào có nhuận tháng 2. Sau đó phi nhờ vào chú thích của Lê Qúy Ngưu trong bộ Lịch Vạn Niên (sẽ in trong đầu năm 2004) mới biết, do sự khác nhau trong cách tính nên giữa lịch Đàng Trong và Đàng Ngoài có khác nhau về tháng nhuận các năm Tân Mùi (dù cùng lấy từ Khâm định Vạn niên thư của nhà Minh). Từ đó chúng tôi mới biết được, năm Tân Mùi nhuận Trọng xuân chính là năm 1631.

(7). L.Sogny, Những chiếc vạ đồng tại hoàng cung. B.A.V.H. 1921. Bn dịch của Phan Xưng, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, tr 5-48. Như trên đã nói, chúng tôi chưa rõ vì sao, khi viết bài này, Sogny chỉ kho sát và thống kê được 6 chiếc vạc thời các chúa Nguyễn. Năm chiếc khác hiện đặt tại khu Duyệt Thị Đường, bên trái điện Thái Hòa và phía trước Bo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế thì ông lại không hề đề cập (?). Riêng về chiếc vạc nói trên, theo Sogny, những người lớn tuổi tại Huế (thời điểm viết bài là năm 1921) thì cho rằng, có thể trước đây chiếc vạc này được đặt trước điện Hiếu Tư (thuộc cung Khánh Ninh của vua Minh Mạng) hoặc trước điện Long An (thuộc cung Bo Định của vua Thiệu Trị), hoặc cũng có thể đặt trước sân Thái Miếu trong hoàng cung. Sau vụ Thất thủ kinh đô, tháng 7/1885, quân Pháp đã đưa chiếc vạc này về đặt trước khu Nhượng địa (tức Mang Cá Lớn). Người Pháp cũng định đưa chiếc vạc trên qua tham dự Hội chợ triển lãm Marseille năm 1906, nhưng ý định này bất thành.

(8).Thực ra các niên hiệu đề trên 2 chiếc vạc này đều có sự nhầm lẫn. Niên hiệu Thịnh Đức của vua Lê Thần Tông thời Hậu Lê chỉ kéo dài từ năm 1653-1657; từ năm 1658 đã đổi thành niên hiệu Vĩnh Thọ; đến năm 1662 lại đổi thành niên hiệu Vạn Khánh. Tuy nhiên, có lẽ khi đúc những chiếc vạc này, chúa Nguyễn vẫn chưa biết vua Lê đã đổi niên hiệu nên ông vẫn sai khắc các niên hiệu Thịnh Đức thứ 8, Thịnh Đức thứ 10 (?). Cũng vì sự “nhầm lẫn” này mà Sogny đã chứng minh rằng các vạc đồng nói trên đều được đúc tại Đàng Trong chứ không phi đúc tại Hà Nội rồi sau đó vua Gia Long đã đưa về Huế sau cuộc Bắc tiến năm 1801, như lời ông quan võ triều Nguyễn “thông hiểu về lịch sử” đã nói với ông trước đó.

(9). Phan Thuận An, Chuyện cái đỉnh đồng. In trong Bo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, tập 2 (Trần Đức Anh Sn chủ biên). Trung tâm BTDTCĐ Huế xuất bn, 1997; từ trang 77-81. Thực ra trên B.A.V.H, số 3 năm 1924, Sogny và Bùi Văn cung cũng đã có một bài khảo cứu về chiếc đỉnh này.